Tại sao dồn sự chú ý vào chương đầu của bản dịch “Lolita”?

Nguyễn Đình Đăng

 

Bàn luận về bản dịch tiếng Việt cuốn “Lolita” đã làm sôi động nhiều diễn đàn mạng thời gian gẩn đây. Tiếp theo bài “‘Trên dòng kẻ chấm, em là Dolores’ trong tiếng Việt có nghĩa gì?”, tôi cũng mạn phép quý vị “góp hai xu” nữa vào cuộc bàn luận này [1].

Chất vấn những người phê phán bản dịch tiếng Việt “Lolita” của dịch giả Dương Tường, một số ý kiến cho rằng tại sao lại chỉ tập trung vào mỗi “Trên dòng kẻ bằng những dấu chấm” hoặc chương đầu của cuốn sách, thậm chí chưa đọc toàn bộ bản dịch.

Lập luận một cách đơn giản, có thể nói, nếu một bản dịch có lỗi hoặc tối nghĩa ngay từ những dòng đầu, nó khiến một độc giả bình thường hoài nghi về những phần còn lại. Cảm giác này cũng từa tựa như khi ta đi nghe một concerto mà soloist  chơi sai một trong những hợp âm đầu tiên. Ngoài ra, nếu tạm ví một bản dịch như cách giải một bài toán, thì những chỗ sai trong cách giải, tối nghĩa trong cách lập luận cần được sửa, bất kể chúng có ảnh hưởng tới đáp số hay không.

Thật ra, chương 1 của “Lolita” trong nguyên văn tiếng Anh là chương được các nhà phê bình nghiên cứu văn học và ngôn ngữ coi là rất xuất sắc, nếu không phải là xuất sắc nhất cuốn sách.

Đó là chương ngắn nhất trong 36 chương của cuốn sách. Nabokov đã cố tình viết ngắn đế giễu nhại phong cách tiểu thuyết truyền thống, thường có chương mở đầu dài dòng kể lể.

Trong nguyên văn tiếng Anh, chương này vang lên như một bài ca. Ngay câu đầu tiên Lolita, light of my life, fire of my loins. My sin, my soul.” đã mang giai điệu (melody), nhịp điệu (rhythm) âm nhạc, và tiếng chuông ngân (Lo-li-li-lol), mà khi dịch ra ngôn ngữ khác nhạc tính này đã không còn nữa.

Âm tiết giữa của “Lo-lee-ta” (Lô-li-ta) và đoạn tiếp theo (yêu một bé gái đầu tiên ở một công quốc bên bờ biển, và các thiên thần tối cao có cánh) làm liên tưởng đến tên nhân vật cũng như nội dung bài thơ “Annabel Lee” (A-nơ-bel Li) [2] của nhà văn Anh, Edgar Poe, mà Humbert Humbert nhiều lần ám chỉ trong truyện (Có người đếm được 20 lần). Ví dụ, Nabokov viết “princedom by the sea”, còn Edgar Poe viết “kingdom by the sea”. Nabokov viết “noble-winged seraphs”, còn Edgar Poe viết “winged seraphs”. Trong “Lolita”, bạn gái thời thơ ấu của Humbert cũng có tên là Annabel Leigh.

Cấu trúc của chương 1 còn làm liên tưởng tới “Diễm ca” (Song of songs of Solomon) trong Kinh Cựu ước. Chính vì ám chỉ này mà khi dịch (hay viết lại) “Lolita” ra tiếng Nga, Nabokov đã dùng một từ rất đắt – чресла – để dịch từ “loins”. Trong tiếng Anh từ loins có nghĩa là 1) vùng thắt lưng, 2) vùng hạ bộ, hay 3) cơ quan sinh sản. Từ чресла có nghĩa là vùng thắt lưng, hông, nhưng thuộc ngôn ngữ cổ, long trọng, chỉ được dùng trong các văn bản nhà thờ (ví dụ Kinh Thánh) [3]. Trong ngôn ngữ Nga thông thường, đó là  поясница (vùng thắt lưng) hay бёдра (hông). Bản tiếng Pháp chuyển ngữ thành “reins” (hai quả  thận, vùng tht lưng phía sau lưng). Do đó, theo tôi, dịch “fire of my loins” thành “ngọn lửa nơi hạ bộ của tôi” có vẻ hơi huỵch toẹt (trong tiếng Việt, hạ bộ là phần ngoài cơ quan sinh dục đàn ông), có thể  vừa không đúng ý của tác giả lại vừa mất đi chất “diễm ca” của đoạn này. Tiếng Việt có một từ cổ là “cật” tương đương nghĩa “loins” của tiếng Anh, “reins” trong tiếng Pháp, và “чресла” từ tiếng Nga. “Cật” là phần thân người ở giữa lưng, hai quả thận hay bầu dục của động vật. Ca dao Việt có câu “No cơm, ấm cật, dậm dật mọi nơi.” Do đó, mạn phép quý vị, tôi đề xuất dịch “fire of my loins” thành “ngọn lửa nơi buồng cật của tôi”, hoặc  “lửa nứng cật tôi, nếu muốn dịch cho khiêu dâm hơn. Nhưng theo tôi, trong văn cảnh của câu đầu tiên, chỉ cần dịch “fire of my loins” đơn giản là “ngọn lửa của lòng tôi” hay “lửa đốt lòng tôi” là được.

Cũng chính vì liên tưởng tôn giáo mà mớ gai (tangle of thorns) trong bản tiếng Anh đã được Nabokov dịch thành cuộn gai (клубок терний) trong bản tiếng Nga để ám chỉ vòng gai trên đầu Chúa Jesus. Trong tiếng Nga клубок có nghĩa một cuộn có dạng tựa như hình cầu, như cuộn len cuộn chỉ. v.v. Trong một bản tiếng Nga tả cảnh Chúa Jesus bị hành hạ có đоạn viết [4]:

Khi bọn lính viễn chinh nhạo báng Người, cứ mỗi đòn nện vàо ‘miện gai’ lại khiến gai nhọn đâm vào sâu hơn, gây ra những vết thương sâu hoắm. Cuộn gai, kết thành vòng, làm đau đớn không tả xiết.”

Không phải ngẫu nhiên Nabokov đã chọn tên Lolita. Trả lời phỏng vấn của tạp chí Playboy, Nabokov nói:

Tôi cần một tên gọi âu yếm với một nhịp điệu trữ tình cho cô bé sớm dậy thì (nymphet) của tôi. Một trong những chữ  trong sáng nhất là chữ ‘L’. Đuôi ‘–ita’ chứa đựng nhiều sự dịu dàng Latin, và đó cũng là điều tôi đòi hỏi. Thế là thành ‘Lolita’(…) Một lý do khác là âm thanh thì thầm dễ chịu của cái tên cội nguồn: những đoá hồng và nước mắt trong Dolores’. Số phận đau lòng của cô bé của tôi phải được kể đến cùng với sự dễ thương và trong trẻo. ‘Dolores’ còn cho cô bé một cái tên gọi âu yếm khác, mộc mạc hơn, thông thường và trẻ con hơn: ‘Dolly’, rất hợp với họ ‘Haze’, trong đó nghĩa ‘những màn sương mù’ trong tiếng Ái-nhĩ-lan hoà với con thỏ con Đức – ý tôi định nói là con thỏ con Đức ‘hare’.”[5]

Thuật ngữ “nymphet”, nay đã đi vào từ vựng Anh ngữ, là do chính Nabokov sáng tạo ra. Nghĩa của thuật ngữ  này là  “một bé gái dậy thì sớm; hoặc một phụ nữ  trẻ quyến rũ khêu gợi” (a sexually precocious girl barely in her teens; also: a sexually attractive young woman). Từ này có gốc là “nymph” (nữ thần, người con gái đẹp, con nhộng). Con nhộng là ấu trùng của côn trùng. Như vậy, nymphet của Nabokov – một chuyên gia về các loài bướm – cũng được hiểu như một sinh vật còn ở dạng nhộng, chưa biến thái, trưởng thành hoàn toàn. Trong “Lolita”, Nabokov đã mượn lời Humbert để định nghĩa “nymphet” như một bé gái dậy thì sớm ở độ tuổi 9 – 14. Đối với Humbert, một cô gái điếm 18 tuổi không còn là một nymphet nữa, tuy cơ thể vẫn chưa phát triển hết. Thuật ngữ “nymphette” trong tiếng Pháp [6] và “нимфеткаtrong tiếng Nga [7] cũng có nghĩa giống như trong tiếng Anh.

Có lẽ do dịch giả Dương Tường trung thành với bản tiếng Pháp khi dịch sang tiếng Việt, nên ông đã dịch y nguyên “avec son mètre quarante-six et son unique chaussette” thành “cao một mét bốn mươi sáu, chân đi độc một chiếc tất”, còn “sur les pointillés” thành “trên dòng kẻ bằng những dấu chấm”. Tuy nhiên, trong chú giải đầu tiên của bản dịch tiếng Việt [8], dịch giả Dương Tường lại dịch “nymphet” thành “tiểu nữ thần” (nữ  thần bé nhỏ), tức là khác hẳn nghĩa của thuật ngữ nymphet thượng dẫn .

Nhà văn Boris Pasternak (1890-1960) từng nói: “Dịch thuật rất giống với sao chép tranh.” Như vậy, một bản dịch từ nguyên gốc có thể được ví như một bản sao của bản gốc bức tranh. Còn một bản dịch từ một bản dịch khác, ví dụ bản dịch tiếng Việt từ bản tiếng Pháp của bản gốc tiếng Anh, cũng tương tự như một bản sao lại một bản sao khác. Ngạn ngữ có câu “Tam sao thất bản”, ý nói mỗi lần chép lại là mỗi lần có sai sót, đến khi chép lại ba lần thì sai hẳn với bản gốc. Hy vọng bản dịch tiếng Việt vẫn còn giữ được nhiều ý của bản gốc, vì chỉ là bản sao …lần thứ hai.

9/5/2012

Chú giải:

[1] Dịch nghĩa đen thành ngữ Anh “To throw in my two cents”, hàm ý “góp ý kiến của tôi”.

[2]

Annabel Lee

Edgar Allan Poe 

It was many and many a year ago,

In a kingdom by the sea,

That a maiden there lived whom you may know

By the name of Annabel Lee;

And this maiden she lived with no other thought

Than to love and be loved by me.

 

I was a child and she was a child,

In this kingdom by the sea:

But we loved with a love that was more than love –

I and my Annabel Lee;

With a love that the winged seraphs of heaven

Coveted her and me.

 

And this was the reason that, long ago,

In this kingdom by the sea,

A wind blew out of a cloud, chilling

My beautiful Annabel Lee;

So that her high-born kinsmen came

And bore her away from me,

To shut her up in a sepulchre

In this kingdom by the sea.

 

The angels, not half so happy in heaven,

Went envying her and me –

Yes! that was the reason (as all men know,

In this kingdom by the sea)

That the wind came out of the cloud one night,

Chilling and killing my Annabel Lee.

 

But our love it was stronger by far than the love

Of those who were older than we –

Of many far wiser than we –

And neither the angels in heaven above,

Nor the demons down under the sea,

Can ever dissever my soul from the soul

Of the beautiful Annabel Lee;

 

For the moon never beams without bringing me dreams

Of the beautiful Annabel Lee;

And the stars never rise but I feel the bright eyes

Of the beautiful Annabel Lee;

And so, all the night-tide, I lie down by the side

Of my darling -my darling -my life and my bride,

In the sepulchre there by the sea –

In her tomb by the sounding sea.

[3] Bản tiếng Nga Phúc âm Luca 12:35 tại

http://bible.optina.ru/new:lk:12:35 được mở đầu bằng câu:

Да будут чресла ваши препоясаны и светильники горящи. И вы будьте подобны людям, ожидающим возвращения господина своего с брака, дабы, когда придёт и постучит, тотчас отворить ему. ” (Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay.)

[4] Nguyên văn tiếng Nga:

Когда легионеры глумились над Ним, от каждого удара по «терновой митре» шипы вонзались все глубже, образовывая глубокие раны. Клубок терний, обвитый повязкой, приносил неисчислимые страдания.

Xem tại: http://www.krest.vn.ua/apologetica/plaschan.php

[5] Nguyên văn tiếng Anh:

For my nymphet I needed a diminutive with a lyrical lilt to it. One of the most limpid and luminous letters is ‘L.’ The suffix ‘-ita’ has a lot of Latin tenderness, and this I required too. Hence – Lolita. (…) Another consideration was the welcome murmur of its source name, the fountain name: those roses and tears in ‘Dolores’. My little girl’s heart-rending fate had to be taken into account together with the cuteness and limpidity. Dolores also provided her with another, plainer, more familiar and infantile diminutive: Dolly, which went nicely with the surname ‘Haze,’ where Irish mists blend with a German bunny – I mean a small German hare.

[6] La nymphette est une pré-adolescente sexualisée par le regard d’un homme mûr, le nympholepte. Les deux termes ont été popularisés suite à la publication par Vladimir Nabokov de son roman Lolita (1955).

[7] Xem http://ru.wikipedia.org/wiki/Нимфетки

[8] Xem

http://www.lolitavietnam.com/2012/03/lolita-chuong-123.html

Advertisements

%d bloggers like this: