Gustav Klimt và Ludwig van Beethoven

Nguyễn  Đình Đăng

Mùa hè năm 1978, khi còn là sinh viên năm thứ hai tại Đại học Moscow, tôi có dịp lần đầu tiên sang Đông Đức chơi. Tại bảo tàng mỹ thuật thành phố Leipzig tôi đã được chiêm ngưỡng bức tượng Beethoven bằng đá cẩm thạch của nhà điêu khắc Max Klinger (1857-1920).

Bức tượng này mô tả Beethoven như thần Zeus – chúa tể của các vị thần Olympia – ngự trên ngai vàng, có con chim ưng sợ hãi nép tránh ra phía dưới chân.

Bức tượng Ludwig van Beethoven của nhà điêu khắc Max Klinger

Hồi đó tôi vẫn còn chưa biết rằng lịch sử bức tượng này lại gắn với tên tuổi của cả Gustav Klimt.

*

Năm 1897, để phản đối sự bảo thủ trong hội Nghệ sĩ Vienna, một số nghệ sĩ Áo đã ly khai khỏi hội này và thành lập hội riêng, lấy tên là nhóm Ly khai thành Vienna (Vienna Secession). Chủ tịch đầu tiên của nhóm Ly Khai này chính là Gustav Klimt. Nhóm Ly khai thành Vienna ra tờ báo riêng là tờ Ver Sacrum (Mùa Xuân Linh Thiêng).

Bìa số đầu tiên của tờ Ver Sacrum

Nhóm Ly khai đặt trụ sở tại tòa nhà Ly khai thành Vienna (Wiener Secessionsgebäude). Tòa nhà này do Joseph Maria Olbrich – kiến trúc sư và là một người đồng sáng lập của nhóm – thiết kế và xây dựng năm 1897, dùng làm nhà triển lãm của nhóm. Trên cửa ra vào của tòa nhà có ghi dòng chữ: “Nghệ thuật riêng cho mỗi thế hệ. Tự do cho nghệ thuật.” Tới năm 1900 ảnh hưởng của nhóm Ly khai đã hoàn toàn lấn át ảnh hưởng của hội nghệ sĩ Vienna.

Tòa nhà Ly khai thành Vienna

Triển lãm Ly khai lần thứ 14 được tổ chức vào năm 1902 với chủ đề kỷ niệm nhà soạn nhạc vĩ đại Ludwig van Beethoven. Triển lãm có bức tượng Beethoven do Max Klinger tạc, đặt tại sảnh trung tâm.

Max Klinger nảy ra ý tưởng làm bức tượng này khi ông đang chơi piano lúc còn là một sinh viên. Từ mô hình đầu tiên bằng thạch cao tô màu năm 1885/1886 tới tác phẩm hoàn thiện bằng đá cẩm thạch, Max Klinger đã mất 15 năm lao động.

Bức tượng khác thường này đã bị công chúng la ó chế giễu trong suốt thời gian diễn ra triển lãm. Sau triển lãm vài năm, thành phố Leipzig đã mua bức tượng này.

Tại triển lãm Ly khai 1902 tường trong phòng đặt bức tượng Beethoven được trang trí bởi bức bích họa Beethoven’s Frieze do Gustav Kimt vẽ.

Frieze là gì?

Trong kiến trúc cổ điển, frieze là phần giữa của mũ cột (entablature), nằm ngay phía dưới mái đua (cornice).

Kiiến trúc cột kiểu Ionic

Trong nội thất, frieze là phần tường nằm phía trên gờ tường treo tranh và phía dưới phào giữa trần và tường [1].

Một ví dụ frieze

Vì bức bích họa Beethoven’s frieze được vẽ chỉ nhằm phục vụ cho triển lãm Ly khai 1902, nên Klimt đã dùng các vật liệu nhẹ như màu keo casein, chì than, phấn để vẽ thẳng lên tường. Đáng lẽ sau triển lãm 1902 bức bích họa bị phá bỏ, nhưng may thay điều này đã không xảy ra. Năm 1903, nhà bảo trợ và sưu tầm nghệ thuật Carl Reinighaus đã mua bức bích hoạ Beethoven’s frieze của Klimt. Bức frieze khi đó đã bị xẻ thành 7 mảnh, gỡ khỏi tường, và cất trong một nhà kho.

Năm 1915 Reinighaus bán bức frieze cho August Lederer – nhà công nghiệp đồng thời là một trong những đại gia quan trọng nhất bảo trợ cho Gustav Klimt và các tác phẩm của ông. Năm 1938 gia sản của gia đình Lederer bị nước Áo Quốc Xã (do Hitler chiếm đóng) quốc hữu hóa vì họ là Do Thái. Trong số gia sản bị nhà nước phát-xít chiếm hữu đó có cả bức frieze của Klimt.

Sau Đại chiến thứ II, gia sản này được trả lại cho con cháu Lederer, nhưng nước Áo đồng thời lại ban lệnh cấm xuất cảng bức frieze. Vì vậy những người thừa kế của gia đình Lederer đành phải bán lại bức frieze cho nước Áo vào năm 1973. Nước Áo sau đó đã bỏ ra 10 năm để phục chế bức bích hoạ này. Năm 1985 một phòng được xây dựng dưới tầng hầm của Tòa nhà Ly khai để bày bức Beethoven’s frieze của Gustav Klimt.

Gian phòng bày bức Beethoven’s frieze của Gustav Klimt

Bức bích họa Beethoven’s frieze dài 34.14 m, cao 2 – 2.15 m, được vẽ bằng màu dùng keo casein, vàng kim, phấn đen và phấn màu, chì than, gắn thạch cao và nhiều vật liệu khác như gương, xà cừ, và cả các vòng mắc rèm cửa, v.v.

Phong cách hội họa của Gustav Klimt thời kỳ Hoàng kim này (Golden phase) chịu ảnh hưởng của hội họa Nhật Bản, đặc biệt là trường phái Rinpa (t.k. 17 – 18) mà một trong các đại diện xuất sắc là Ogata Korin (1658 – 1716).

Xem hai bức nhị bình nổi tiếng của Ogata Korin là bức Hoa mận trắngHoa mận đỏ của Ogata Korin dưới đây.

Ogata Korin, Hoa mận trắng.

Ogata Korin, Hoa mận đỏ

Bản thân Klimt từng nói: “Trong những ngày đầu ở đây tôi đã không bắt đầu vẽ ngay, mà chơi thoải mái mấy ngày, lật sách, nghiên cứu nghệ thuật Nhật Bản đôi chút.

Hoặc

Đôi khi tôi bỏ buổi vẽ sáng, và thay vào đó bằng việc nghiền ngẫm các cuốn sách Nhật Bản của tôi.

Ta thấy, các nghệ sĩ châu Âu chưa bao giờ ngần ngại chịu ảnh hưởng bất cứ cái gì họ cho là hay, là đẹp, đưa các motives châu Phi, Á-Đông, v.v… vào hội họa và âm nhạc của mình, không hề sợ lai căng, vay mượn, mà biến những thứ đó thành phong cách của chính họ.

Khi vẽ bức bích hoạ Beethoven’s Frieze, Klimt đã lấy cảm hứng từ 3 chủ đề: 1) đau khổ, 2) chướng ngại, và 3) khải hoàn chiến thắng, trong Giao hưởng số 9 của Beethoven. Chương kết (chương 4) của giao hưởng này được coi là một giao hưởng nằm trong giao hưởng. Chương 4 bắt đầu bằng điểm lại 3 chương đầu sau đó chuyển sang phần chính là Ode to Joy (Ngợi ca niềm sung sướng). Bức bích hoạ của Klimt cũng có cấu trúc tương tự chương 4 giao hưởng số 9 của Beethoven: những hình người bay vượt qua hai phần đầu, để bay tới cao trào là phần 3 của bức bích hoạ – Ngợi ca niềm vui sướng. Song mọi hình tượng và câu chuyện là sáng tạo của Klimt. Đặc biệt tinh thần của bức bích hoạ cũng khác.

Bức bích họa gồm 3 phần, như một câu chuyện về sức mạnh của Nghệ Thuật chiến thắng Tai Ương:

1) “Khát khao Hạnh phúc” (Yearning for Happiness),

Khao khát Hạh Phúc (trích đoạn từ Beethoven’s Frieze của G. Klimt)

vẽ nhân loại đau khổ đang cầu khẩn một người hùng cứu tinh (Hiệp Sĩ cầm gươm) chiến đấu cho hạnh phúc nhân loại. Có những suy diễn cho rằng mặt của Hiệp Sĩ chống gươm là chân dung Beethoven, hoặc Gustave Mahler (1860 – 1911). Song suy diễn cho đó chính là chân dung tự hoạ của Klimt – người kiên định con đường nghệ thuật của mình, bất chấp mọi chống đối – nghe có vẻ hợp lý hơn cả [2].

Liệu đây có phải là chân dung Beethoven, Gustav Mahler hay tự hoạ của Klimt?

2) “Các lực lượng thù địch” (Hostile Forces)

Các lực lượng thù địch (trích đoạn Beethoven’s Frieze cuả G. Klimt)

vẽ quái vật Typhon [3] – cha của tất cả quái vật – trông như con tinh tinh, và 3 cô con gái phù thủy Gorgon của nó cùng các hình ảnh tượng trưng cho bệnh tật, chết chóc, dục vọng, trụy lạc. Chính phần này đã khiến cho nhiều phê bình gia nổi điên, vì tinh thần của nó khác xa tình thần Beethoven. Nếu như Beethoven từ chối mọi cảm xúc nhục dục, thì, trong “Các lực lượng thù địch” của Klimt, trụy lạc, dâm dật, sa đọa hiện ra lồ lộ. Một số phê bình gia đương thời thậm chí coi Beethoven’s Frieze của Klimt là “con heo” (pornography). Một phê bình gia từ Frankfurt đã tức tối kêu lên: “Phải chăng đây là con đường Klimt đưa ta tới Beethoven? Hình ảnh tượng trưng cho dâm ô của Klimt là đỉnh điểm của nghệ thuật đồi trụy.”.

3) “Ngợi ca niềm vui sướng” (Hymn to Joy) (Tương ứng với Ode to Joy trong chương 4 Giao hưởng số 9 với lời thơ của Schiller),

Ngợi ca niềm Vui Sướng (triích đoạn Beethoven’s Frieze cuả G. Klimt)

Tại đây Hiệp Sĩ cởi bỏ áo giáp, nhưng không bay lên trời như Thánh Gióng quê ta, mà tìm thấy niềm an ủi trong vòng tay Người Đẹp, trên nền dàn đồng ca như trong Ode to Joy của Beethoven. Nghệ Thuật đưa con người vào vương quốc của Tình Yêu, Hoan Lạc và Hạnh Phúc.

Tại buổi vernissage [4] (14/4) của triển lãm Ly Khai lần thứ 14 (15/4 – 15/6/1902), các nghệ sĩ đã tổ chức một gala concert. Tại buổi hoà nhạc này, dàn nhạc giao hưởng Vienna đã chơi chương 4 Giao hưởng số 9 của Beethoven dưới đũa chỉ huy của nhà soạn nhạc lừng danh Gustav Mahler.

Có thể vừa xem Beethoven’s Frieze của Klimt vừa thưởng thức chương 4 giao hưởng số 9 của Beethoven trên YouTube.

*

Giờ đây, đọc thông báo triển lãm poster của Klimt tại Hà Nội, tôi lại nhớ tới cảm giác đầu tiên khi nhìn thấy bức tượng Beethoven của Max Klinger tại Leipzig 34 năm về trước.

Tokyo, 15 – 17/6/2012

Đăng tại SOI một phần ngày 15/6/2012

——————————–
Chú giải:
[1] Có thể dịch “frieze” là “diềm mũ cột” vì frieze là phần đường diềm ở giữa (4) của entablature (mũ cột) (1) trong hình “Kiến trúc cột kiểu Ionic”. Còn bên trong nội thất, có thể dịch “frieze” là “diềm tường”.  Như vậy: “Beethoven’s Frieze” = “Diềm tường Beethoven”.
[2] Lynne Chang, Mahler in Art – To the Age its Art, to Art its Fredoom.
[3] Typhon (Τυφῶν) còn được viết là Typhoeus (Τυφωεύς), Typhaon (Τυφάων) hoặc Typhos (Τυφώς) là quái vật trong truyền thuyết cổ Hy Lạp. Nó cao chạm các vì sao. Tay nó vươn dài từ Đông sang Tây. Đầu nó là hàng trăm con rồng, mắt toé ra lửa. Cơ thể nó được bao bọc trong gió bão. Typhon từng ánh nhau vơi thần Zeus, song cuối cùng đã bi thua, bị Zeus bắt nhốt vào dưới núi lửa Etna (tại thành phố Catania trên đảo Sicily). Từ tiếng Hy Lạp, chỉ thần gió, cuồng phong, gió xoáy, “typhon” được du nhập và tiếng Ả Rập vào t.k. 11 rồi lan sang Ấn Độ, trước khi du nhập và tiếg Anh trong t.k. 16 để trở thành từ”typhoon” (cơn bão cuồng phong ngoài biển). Từ “typhoon” còn có xuất xứ độc lập từ tiếng Trung Quốc là 台風 (đài phong) hay 大風 (đại phong). Người Nhật phát âm từ 台風 là “tai-phu”, gần giống với “typhoon” (tai-phun) trong tiếng Anh.
[4] “Vernissage” (tiếng Pháp) có nghĩa đen là “phủ dầu bóng”. Thời xưa, trước khi cho công chúng vào xem triển lãm, hoạ sĩ có một buổi để phủ dầu bóng lên các bức tranh của mình sau khi đã treo lên tường tại phòng triển lãm. Buổi đó vì thế có tên là “Vernissage”.  Sau này, vernissage là buổi trước buổi khai mạc chính thức. Hoạ sĩ thường mời một số bạn bè, các phê bình gia, bảo trợ và sưu tầm tranh quen biết tới, vừa ngắm tranh, vừa dùng tiệc nhẹ (canapés và rượu vang).
Advertisements

%d bloggers like this: