Wassily Kandinsky: Tam giác của cuộc sống tinh thần

Nguyễn Đình Đăng trích dịch từ 

Василий Кандинский, О духовном в искусстве (1910)

Wassily Kandinsky đang vẽ bức “Dominant curve” (1936)

Một tam giác lớn với 3 góc nhọn, được chia thành những tầng không đều nhau, với tầng nhọn nhất và nhỏ nhất hướng lên trên – đó là sơ đồ trung thực thể hiện cuộc sống tinh thần.

Toàn bộ tam giác đó từ từ, hầu như không được nhận thấy, chuyển động chậm chạp về phía truớc, hướng lên trên, và ở nơi mà góc nhọn trên cùng ngự trị “ngày hôm nay”, thì “ngày mai” sẽ là phần kế tiếp, có nghĩa là điều mà ngày hôm nay chỉ có cái đỉnh hiểu được, còn đối với toàn bộ phần còn lại của tam giác là nhảm nhí không hiểu được, thì ngày mai sẽ trở nên có trọn vẹn ý nghĩa và nội dung cuộc sống đối với tầng thứ hai của tam giác.

Trên đỉnh của tầng trên cùng đôi khi chỉ có một người duy nhất. Tầm nhìn sung sướng của người đó đồng nghĩa với nỗi buồn nội tâm vô biên. Ngay cả những người gần nhất cũng không hiểu người đó. Họ tức tối gọi y là kẻ lừa đảo hoặc một gã tâm thần. Beethoven đã đứng cô đơn như vậy trên đỉnh trong sự mắng nhiếc của những người đương thời với ông.

Cần bao nhiêu năm để tầng to của hình tam giác đạt tới đỉnh, chỗ Beethoven đã từng đứng trong cô đơn? Và, cho dù biết bao tượng đài đã được dựng lên, liệu có nhiều người đã thực sự đạt tới đỉnh đó hay không?

Tượng L.V. Beethoven (1902) của Max Klinger
(Bảo tàng mỹ thuật Leipzig)

Trong tất cả các tầng của hình tam giác đều có các đại diện của nghệ thuật. Mỗi người trong họ, những ai có thể nâng tầm nhìn vượt qua giới hạn tầng mình đứng, đều trở thành nhà tiên tri đối với những người xung quanh và giúp đẩy cỗ xe bướng bỉnh tiến lên. Nhưng nếu y không có con mắt tinh tường hoặc dùng nó phục vụ những mục đích và động cơ thấp hèn, hoặc nhắm mắt làm ngơ, thì y sẽ được các bè bạn cùng tầng hiểu hoàn toàn, và họ sẽ tung hô y. Cái tầng đó của hình tam giác mà càng lớn, đồng thời có nghĩa là càng thấp, thì số người hiểu lời nghệ sĩ càng đông. Ở mỗi tầng như vậy rõ ràng người ta đều vô tình hay hữu ý muốn có miếng bánh tinh thần của mình. Các nghệ sĩ cung cấp cho họ chiếc bánh tinh thần đó, còn ngày mai tầng tiếp theo của hình tam giác sẽ muốn có miếng bánh đó.

Dĩ nhiên sơ đồ này không bao quát được toàn bộ cuộc sống tinh thần. Nó không cho thấy phần khuất trong bóng tối, không phơi bày cái vết đen chết chóc. Một điều rất thường xảy ra là chiếc bánh tinh thần nói trên cũng có thể trở thành thức ăn của một số người ở tầng cao hơn. Đối với một thực khách như vậy miếng bánh đó trở thành thuốc độc: ở liều nhỏ nó khiến tâm hồn từ tầng cao hơn tụt dần xuống tầng thấp hơn; dùng với liều mạnh hơn thuốc độc đó đưa đến sự sa đoạ, đẩy tâm hồn sa xuống các tầng càng thấp hơn nữa. Ở một trong các cuốn tiểu thuyết của mình, Senkevich so sánh cuộc sống tinh thần với bơi lội: kẻ nào không lao động và liên tục đấu tranh kháng cự lại sự chìm, kẻ đó sẽ không tránh khỏi bị chết đuối. Ở đây năng khiếu của con người, tài năng của y (theo nghĩa của Kinh Thánh) có thể trở thành sự nguyền rủa chẳng những đối với nghệ sĩ – người có tài năng đó, mà còn đối với tất cả những ai cắn phải miếng bánh tẩm thuốc độc đó. Nghệ sĩ dùng sức lực của mình để nuông chiều các nhu cầu thấp hèn: trong hình thức ra vẻ nghệ thuật y thể hiện một nội dung thiếu sạch sẽ, y lôi kéo về mình những phần tử yếu đuối, pha trộn chúng với các phần tử xấu xa, lừa dối mọi người và khiến họ tự lừa dối mình, làm mình và những người khác tin rằng họ đang khao khát tinh thần và đang được giải khát từ nguồn trong sạch. Các tác phẩm loại này không giúp tiến lên phía trước, mà kìm hãm, đẩy lùi những gì đang muốn vươn lên, lan truyền bệnh dịch ra xung quanh.

Wassily Kandinsky
Dominant curve
sơn dầu, 129.3 x 194.3 cm, 1936

Những thời kỳ, khi nghệ thuật không có bất cứ một đại diện lớn nào, khi chiếc bánh tinh thần vắng bóng, là những mạt kỳ trong thế giới tinh thần. Các linh hồn liên tục sa từ các tầng trên xuống các tầng thấp hơn, và toàn bộ hình tam giác dường như đứng yên. Thậm chí nó dường như còn chuyển động tụt lùi. Trong những thời kỳ của câm và điếc đó, con người gán cho các thành tựu bề nổi một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Người ta chỉ quan tâm tới hưởng lợi vật chất và sự tiến bộ của kỹ thuật được chào đón như một thành tựu vĩ đại có thể phụng sự và chỉ phụng sự thể xác. Trong trường hợp khả dĩ nhất các sức mạnh thuần túy tinh thần không được coi trọng đúng mực, còn nói chung thì hoàn toàn không được để ý tới.

Người ta cười nhạo những người khát khao và có khả năng nhìn nhận, hoặc coi họ là những kẻ thần kinh bất thường. Còn giọng ca của những tâm hồn hiếm hoi mà vỏ bọc của giấc mơ không thể che chắn được, như lờ mờ cảm thấy nhu cầu của cuộc sống tinh thần, thì vang lên một cách đáng thương và tuyệt vọng trong dàn đồng ca vật chất thô thiển. Màn đêm của cuộc sống tinh thần đang buông xuống dần dần càng dày đặc. Tất cả trở nên càng xám dần xung quang những tâm hồn hoảng sợ, và những người mang những tâm hồn đó, bị giày vò và kiệt quệ bởi sự hoài nghi và nỗi sợ hãi, thà chấp nhận bất thình lình bị đẩy rơi vào tối đen hơn là chứng kiến buổi hoàng hôn.

Trong những thời kỳ này, nghệ thuật tồn tại một cách nhục nhã, được xử dụng vào những mục đích thuần túy vật chất. Nó tìm kiếm tư liệu cho nội dung của mình trong vật chất tục tằn bởi lẽ nó không biết tới những gì cao thượng hơn. Nó coi mục đích duy nhất của mình là phản ánh các vật thể chính xác như trong gương, và các vật thể đó được thể hiện y như chính chúng. “Cái gì” trong nghệ thuật đã eo ipso (tự nó) biến mất. Chỉ còn lại mỗi câu hỏi vật thể đó được nghệ sĩ thể hiện “như thế nào”. Câu hỏi đó nay đã trở thành “Credo” (tín điều). Nghệ thuật trở thành vô hồn. Nghệ thuật tiếp tục đi theo con đường “Như thế nào” này. Nó được chuyên môn hoá, chỉ được hiểu bởi các nghệ sĩ – những người bắt đầu kêu ca rằng công chúng thờ ơ với những tác phẩm của họ. Thường thì trong những thời kỳ như vậy nghệ sĩ chẳng việc gì phải nói nhiều và người ta đã nhận ra y nếu y có một “khác biệt” rất không đáng kể. Vì cái “khác biệt” này mà một đám các ông bầu và những kẻ am hiểu tách y ra (rồi sau đó có thể đem lại những lợi lộc vật chất lớn!), vì thế một đám đông những người có bề ngoài khéo léo đã lao vào nghệ thuật, mà như kẻ mù, tưởng có thể dễ dàng chiếm được. Có hàng ngàn và hàng ngàn nghệ sĩ sống tại mỗi “trung tâm nghệ thuật”, đại đa số chỉ tìm kiếm một kiểu cách mới. Không hề có cảm hứng, với trái tim nguội lạnh, và tâm hồn mê ngủ, họ sáng tạo ra hàng triệu tác phẩm nghệ thuật.

Dịch xong ngày 18/11/2012

Người dịch đặt tựa đề và thêm hình minh họa (từ internet)

Những bài liên quan:

Về khái niệm “trừu tượng” trong hội họa trừu tượng(*)

Wassily Kandinsky: Nguyên tắc nhu cầu nội tại

Wassily Kandinsky bàn về các đại diện tiền thân của hội hoạ trừu tượng

Trừu tượng: Từ Pythagoras tới Kandinsky

Advertisements

%d bloggers like this: