Từ Ischia tới Paris

Nguyễn Đình Đăng

1) Ischia Tuần trước, tôi dự một hội thảo quốc tế về vật lý hạt nhân (11th International Spring Seminar on Nuclear Physics) tại đảo Ischia trên vịnh Napoli ở Ý. Hội thảo do GS Aldo Covello và các cộng sự của ông tại ĐH Napoli đứng ra tổ chức 3 – 4 năm một lần, bắt đầu từ năm 1986. Địa điểm hội thảo là các thị trấn và đảo trên vịnh Napoli. Đối với tôi các hội thảo này là nguồn cảm hứng không chỉ trong vật lý mà còn trong hội hoạ, bởi phong cảnh đẹp như thiên đường trên vịnh Napoli là những tư liệu vô cùng quý giá, đã đi vào tranh của tôi như trong bức “Amami, Amami!“.

Nguyễn Đình Đăng, ÂAmami, Amami!”, 2012, sơn dầu trên linen, 60.6 x 72.7 cm.

Nguyễn Đình Đăng
Amami, Amami! (2012)
sơn dầu trên canvas, 60.6 x 72.7 cm

Ischia là một hòn đảo núi lửa nằm ở phía bắc vịnh Napoli, có khoảng 6 vạn dân. Với nhiều danh lam thắng cảnh, suối nước nóng, Ischia thu hút khoảng 6 triệu khách du lịch hàng năm.  Từ t.k. VIII tr CN người Hy Lạp đã tới Ischia buôn bán với người Etruscan ở bờ Tây bán đảo Ý. Người La Mã cổ đại gọi tên đảo này là Aenaria, theo tên thành phố họ xây dựng tại đây năm 315 tr CN. Người Hy Lạp cổ đại gọi nó là Πιθηκοῦσσαι (Pithēkoussai). Cả hai tên này đều có nghĩa là đảo khỉ  (arimos trong tiếng Etruscan và πίθηκος, píthēkos trong tiếng Hy Lạp cổ), nhưng ngày nay giống khỉ ở đây đã tuyệt chủng. Từ t.k. I tr CN thi hào Virgil (70 – 19 tr CN) đã nhắc tới Ischia với tên Inarime, rồi sau đó là Arime. Tên Ischia ngày nay xuất hiện lần đầu tiên trong bức thư giáo hoàng Leo III (750 – 816) gửi hoàng đế Charlemagne (742/747/748 – 814) vào năm 813.

Cảnh Ischia nhìn từ lâu đài Argonese

Cảnh Ischia nhìn từ lâu đài Argonese
(ảnh của tác giả)

Bình minh trên đảo Ischia (Ảnh của tác giả)

Bình minh trên đảo Ischia
(Ảnh của tác giả)

Ischia từng là nguồn cảm hứng cho nhiều văn nghệ sĩ. Tại đây ngày 27.12.1509 nữ thi sĩ lừng danh Vittoria Colonna (1490 – 1547), con gái tướng Fabrizio Colonna, đã kết hôn với Fernando Francesco d’Ávalos (1489 – 1525), hầu tước đời thứ V xứ Pescara. Sau khi Fernando qua đời, Vittoria từ chối mọi lời cầu hôn, quay về sống tại Ischia và chuyên tâm sáng tác thơ. Năm 1536 ở tuổi 46, Vittoria Colonna quay lại Rome và kết bạn với thiên tài Phục Hưng Michelangelo, khi đó đã 61 tuổi, người đã ở bên Vittoria khi bà nhắm mắt tại Rome ngày 25.02.1547.

Chân dung Vittoria Colonna do Sebastiano del Piombo vẽ năm 1520 (trái) và Michelangelo vẽ khoảng năm 1540 (phải)

Chân dung Vittoria Colonna do Sebastiano del Piombo vẽ năm 1520 (trái) và Michelangelo vẽ khoảng năm 1540 (phải)

Thi sĩ Henry Wadsworth Longfellow (1807 – 1882), người Mỹ đầu tiên dịch “Hài kịch thần thánh” của đại thi hào thời Trung Cổ Dante Alighieri (1265 – 1321) ra tiếng Anh, đã làm một bài thơ tưởng niệm Vittoria Colonna, mà tôi tạm dịch ra tiếng Việt dưới đây:

Vittoria Colonna

Henry Wadsworth Longfellow

Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Đình Đăng

Một lần nữa, một lần nữa, Inarimé, Những ngọn đồi tím của ngươi! – một lần nữa ta nhìn thấy Tiếng sóng gầm trào lên trong vịnh ta nghe Rửa những viên sỏi trắng trên bờ biển ấy.

Cao vượt lên sóng cồn và bãi cát Tòa lâu đài của ngươi đứng sừng sững cô đơn Như con tàu buồm lớn bị sóng hất lên bờ vỡ nát, Cây cột mốc điêu tàn của quá khứ tiêu tan.

Trên sân thượng lâu đài ta vẫn thấy Một bóng ma đang nhẹ lướt ngược xuôi Colonna, – đó chính là nàng đấy Từng sống và yêu, bao năm tháng xa xôi.

Người vợ trẻ đẹp của Pescara, Hạng nữ tính ở thượng tầng hoàn hảo Đời là tình yêu, đời của đời ta, Đương đầu với đổi thay, thời gian, và vong tử.

Bởi cái chết rứt sợi chỉ hồng bao kẻ, Nhưng với nàng, nó chỉ xiết chặt thêm Chiếc nhẫn cưới đeo trên tay mảnh dẻ Và bó ghì che bầu ngực dịu êm.

Nàng đã biết sự dày vò vô bờ bến Nỗi muộn phiền, niềm đau đớn khôn nguôi Của móng ngong đợi chờ người ấy đến Chẳng bao giờ quay lại nữa, nàng ơi.

Bóng râm của các lùm cây dẻ, Hương thơm từ những đóa hoa cam, Tiếng chim hót và còn nhiều hơn thế, Sự lặng yên trong những căn phòng trống tan hoang;

Và hơi thở thì thầm của biển, Sự vuốt ve mơn trớn của không trung, Vạn vật trong thiên nhiên đều như thể Chứng giám cho niềm tuyệt vọng của nàng.

Để tới lúc khi con tim trĩu nặng, Tự giam cầm quá lâu, nay tìm được lối thoát  ra Và giọng hát của niềm bi ai vô tận Vang lên say sưa trong một bài ca.

Thì khi đó như mặt trời, tuy ẩn nơi nào đấy, Biến màn sương chì xám thành vàng tỏa long lanh, Cuộc đời nàng bỗng hòa vào ánh sáng Từ trốn tuy hiện hữu mà ta vẫn không hay.

Inarimé! Inarimé! Lâu đài của ngươi cheo leo trên vách đá Sẽ tan thành cát bụi, sẽ suy tàn Nhưng ký ức về tình yêu của nàng còn đó Vẫn huy hoàng mãi mãi với thời gian.

*

Nguyên văn tiếng Anh:

Once more, once more, Inarimé, I see thy purple hills! –once more I hear the billows of the bay Wash the white pebbles on thy shore.

High o’er the sea-surge and the sands, Like a great galleon wrecked and cast Ashore by storms, thy castle stands, A mouldering landmark of the Past.

Upon its terrace-walk I see A phantom gliding to and fro; It is Colonna, – it is she Who lived and loved so long ago.

Pescara’s beautiful young wife, The type of perfect womanhood, Whose life was love, the life of life, That time and change and death withstood.

For death, that breaks the marriage band In others, only closer pressed The wedding-ring upon her hand And closer locked and barred her breast.

She knew the life-long martyrdom, The weariness, the endless pain Of waiting for some one to come Who nevermore would come again.

The shadows of the chestnut trees, The odor of the orange blooms, The song of birds, and, more than these, The silence of deserted rooms;

The respiration of the sea, The soft caresses of the air, All things in nature seemed to be But ministers of her despair;

Till the o’erburdened heart, so long Imprisoned in itself, found vent And voice in one impassioned song Of inconsolable lament.

Then as the sun, though hidden from sight, Transmutes to gold the leaden mist, Her life was interfused with light, From realms that, though unseen, exist.

Inarimé! Inarimé! Thy castle on the crags above In dust shall crumble and decay, But not the memory of her love.

Lâu đài Argonese (Ảnh của tác giả)

Lâu đài Aragonese (từ 474 tr CN), nơi Vittoria Colonna từng sống
(Ảnh của tác giả)

Các danh hoạ như Joseph Mallord William Turner (1775 – 1851), Sylvester Shcherin (1791 – 1830) và Ivan Aivazovsky (1817 – 1900) từng vẽ phong cảnh tại Ischia. Nhà soạn nhạc thiên tài người Đức Felix Mendelssohn đã tới Ischia vào năm 1831.  

Ivan Aivazovsky Đảo Ischia (1892) sơn dầu trên canvas

Ivan Aivazovsky
Đảo Ischia (1892)
sơn dầu trên canvas

Năm 1956 nhà soạn nhạc người Anh William Walton (1902 – 1983) đã bán nhà tại London và chuyển hẳn tới sống tại Ischia. Tại Ischia ông đã xây villa La Mortella và vợ ông đã xây dựng một khu công viên trồng nhiều loại cây cối hoa cỏ lạ từ bốn phương. Khu vườn được nhà kiến trúc phong cảnh và làm vườn người Anh Montague Russell Page (1906 – 1985) thiết kế.  William Walton đã mất tại đây và tro cốt của ông được chôn dưới một tảng đã trên mỏm núi trong vườn, nhìn xuống vịnh Napoli. Năm 2004, trong cuộc thi các công viên đẹp nhất nước Ý (il più bel parco d’Italia) do công ty Mỹ Briggs & Stratton tổ chức, La Mortella đã đánh bại 100 đối thủ và đoạt giải nhất.

Một góc vườn trong villa La Mortella của vợ chồng nhà soạn nhạc William Walton

Một góc trong công viên La Mortella 
(Ảnh của tác giả)

Trong phòng hòa nhạc của William Walton tại La Mortella (Ảnh của tác giả)

Trong phòng hòa nhạc của William Walton tại La Mortella
(Ảnh của tác giả)

Vịnh Napoli nhìn từ La Mortella

Vịnh Napoli nhìn từ La Mortella
(Ảnh của tác giả)

Mộ của nhà soạn nhạc William Walton tại La Mortella

Mộ nhà soạn nhạc William Walton tại La Mortella
(Ảnh của tác giả)

Hội thảo được tổ chức tại hotel 4 sao Hermitage. Đa số đại biểu dự hội thảo ở luôn tại đây. Hotel có bể bơi, phòng massage. Phòng hội nghị tại hotel có cả một grand piano Yamaha. Tôi chơi được ba lần, hai lần đầu chơi một mình, lần sau có thêm Alex Brown (GS của Michigan State University) tham gia. Khán giả ngồi nghe có Mary – vợ Alex Brown, vợ chồng GS Luciano Moretto (Lawrence Berkeley National Laboratory và University of California) và vợ chồng GS A. Poves (Universidad Autonoma de Madrid).

Hotel Hermitage tại Ischia, nơi diễn ra Hội thảo mùa xuân lần thứ 11 về vật lý hạt nhân

Hotel Hermitage tại Ischia
(Ảnh của tác giả)

GS Luciano Moretto (người Mỹ gốc Ý) năm nay 74 tuổi. Ông là một bách khoa toàn thư sống và là một trong những nhà vật lý Mỹ đầu tiên tới Hà Nội 20 năm về trước để dự hội thảo “Triển vọng vật lý hạt nhân những năm cuối 90“. Ông biết tiếng Anh, Ý, Latin, Hy Lạp, Pháp, thuộc nhiều thơ tiếng Latin, Ý, Pháp. Tại một bữa tối ở hội thảo, tôi đã được chứng kiến ông và GS Aldo Covello thi nhau đọc thơ Dante, người nọ tiếp theo người kia. Tại dạ tiệc của hội thảo, ngồi cạnh tôi, chỉ vào li vang, ông đọc thuộc lòng bằng tiếng Pháp cho tôi nghe bài thơ “Chiếc bình hoa vỡ” của thi hào René-François Sully Prudhomme (1839-1907), người đầu tiên đoạt giải Nobel văn chương vào năm 1901.

prudhomme

René-François Sully Prudhomme
(1839-1907)

Le vase brisé

René-François Sully Prudhomme

Le vase où meurt cette verveine D’un coup d’éventail fut fêlé ; Le coup dut effleurer à peine : Aucun bruit ne l’a révélé.

Mais la légère meurtrissure, Mordant le cristal chaque jour, D’une marche invisible et sûre En a fait lentement le tour.

Son eau fraîche a fui goutte à goutte, Le suc des fleurs s’est épuisé ; Personne encore ne s’en doute ; N’y touchez pas, il est brisé.

Souvent aussi la main qu’on aime, Effleurant le coeur, le meurtrit ; Puis le coeur se fend de lui-même, La fleur de son amour périt ;

Toujours intact aux yeux du monde, Il sent croître et pleurer tout bas Sa blessure fine et profonde ; Il est brisé, n’y touchez pas.

Tôi tạm dịch ra tiếng Việt như sau:

Chiếc bình hoa vỡ

René-François Sully Prudhomme

Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Đình Đăng

Chiếc bình nơi nhành mã thiên đang héo Bị nứt rồi vì cú đập của chiếc quạt tay; Cú đập hẳn chỉ sượt qua như không thấy: Chẳng tiếng động nào từ nó vang bay.

Nhưng vết bầm kia tuy xước nhẹ, Gặm nhấm pha lê ngày mỗi ngày, Từng bước vô hình nhưng chắc chắn Chậm chạp lần theo một vòng quay.

Nước mát rỉ dần ra từng giọt, Dòng nhựa trong hoa cạn kiệt thôi; Mà chẳng một ai hề hay biết; Chớ chạm, bình hoa đã vỡ rồi.

Bàn tay ta yêu thường cũng thế Vuốt nhẹ, làm thương tổn trái tim Rồi để tự mình tim rạn nứt, Hoa của tình yêu cũng lụi tàn;

Trong mắt thế gian luôn nguyên vẹn, Tim âm thầm khóc vết thương sâu Nhỏ mong manh đang ngày càng lan rộng; Tim vỡ rồi, đừng chạm nữa, tim đau.

GS Luciano Moretto (trái) trên boong tàu đi tham quan quanh đảo Ischia

GS Luciano Moretto (trái) trên tàu thủy tham quan đảo Ischia
(Ảnh do Giuseppina, vợ GS Moretto, chụp)

Các công trình nghiên cứu kết cặp siêu dẫn và mật độ mức trong hạt nhân nóng của GS Moretto những năm 1970 đã gây hứng khởi giúp tôi tìm ra con đường riêng của mình trong lý thuyết hạt nhân. Tại hội thảo lần này, tôi đã trình bày kết quả mới nhất mà nhóm chúng tôi thu được cho thấy sự tăng bất thường của mật độ mức trong hạt nhân đo được tại nhiệt độ thấp có moment quay lớn chính là bằng chứng của sự tái xuất hiện kết cặp siêu dẫn trong hạt nhân. Ngoài vật lý, mỗi khi gặp nhau tại các hội thảo quốc tế, tôi và GS Moretto thường trò chuyện không dứt về  hội hoạ, âm nhạc, lịch sử và văn chương. Tại hội nghị lần này ông báo cáo về dấu hiệu chuyển pha bậc nhất trong mật độ mức tại nhiệt độ thấp. Giuseppina vợ ông nói với tôi rằng, trước khi tới dự hội thảo, Luciano sôi nổi nói: “Tôi phải nói cái này cho Đăng. Anh ta chắc chắn sẽ thích lắm.” Khi gặp tôi tại Ischia, ông ôm chầm lấy tôi và reo lên: “My dear friend!” Sau đó, trước buổi trình bày chính thức tại hội thảo, ông đã thuyết trình riêng cho tôi nghe về công trình của ông. Khi chúng tôi chia tay tại sân bay Napoli sau hội thảo, ông bảo tôi: “You are my younger brother.” (Anh là em trai tôi.)

2) Paris

Trong Pyramide bằng kính của Louvre

Trong kim tự tháp bằng kính của bảo tàng Louvre

Trên đường từ Napoli bay về Tokyo, tôi dừng ở Paris 8 tiếng đồng hồ. Gửi đồ tại phi trường Charles de Gaulle, tôi đáp tàu tới bảo tàng Louvre. Trong vòng một giờ rưỡi đồng hồ tôi đã xem trọn gian hội họa Phục Hưng của Ý và một phần hội hoạ Pháp từ Tân Cổ Điển tới Lãng mạn. Xem gian hội hoạ Ý lần này như được ăn một đại tiệc vì các kiệt tác hội họa treo san sát nhau, từ Piero della Francesca, Botticelli, Ghirlandaio, Mantegna, Antonello da Messina, tới Leonardo, Raphael, Veronese, Titian, Tintoretto, Caravaggio, v.v. Sang gian Pháp tôi gặp ngay David, Ingres, Géricault, Chassériau, Delacroix, v.v.

Mona Lisa” của Leonardo được gắn vào một bức tường bao trong một khung thép dựng đứng ở cuối gian bên phải hành lang tranh Ý. Bức tranh nhỏ xuống màu thành vàng sẫm ngả nâu đen, được treo sau một tấm kính to đóng khung màu bạc, trông như khung kính của một vòi sen phòng tắm. Hai bên trên tường là hai hình cảnh báo khách coi chừng bị kẻ cắp móc túi khi xem tranh.  Trước bức tranh luôn có một đám đông chen lấn, giơ máy ảnh chụp hình lia lịa.

Mặc dù Leonardo vẽ hình hoạ tuyệt đỉnh, song tính thích thử nghiệm của ông từng gây thảm hoạ kỹ thuật, mà điển hình là hai bức bích hoạ “Bữa tối cuối cùng” (1494 – 1498) tại Milano, đã hỏng ngay sau khi vẽ, và “Trận Anghiari” (1505), đã hỏng trong khi vẽ, đến nay không biết thất lạc ở đâu. Trong khi các bức hoạ của Leonardo tại Louvre như “Đức Mẹ Đồng trinh tại núi đá” (1483 – 1486), “Mona Lisa” (1503 – 1506), “Thánh John Tẩy giả” (1513 – 1516) đều xuống màu tối sầm, bức “Condottiero” do Antonello da Messina như  vẽ năm 1475, tức trước đó từ 10 tới 40 năm, lại ở tình trạng sáng sủa hơn.  Tranh của Rapahel cũng vẫn rất trong sáng và rực rỡ.

Atonello da Messina Chân dung đàn ông (Condottiero) (1475) sơn dầu trên ván gỗ, 30 x 36.2 cm

Atonello da Messina
Chân dung đàn ông (Condottiero) (1475)
sơn dầu trên ván gỗ, 30 x 36.2 cm
(ảnh của tác giả)

Leonardo da Vinci Đức Mẹ Đồng Trinh bên núi đá (1483 - 1486) sơn dầu, 199 x 122 cm

Leonardo da Vinci
Đức Mẹ Đồng Trinh bên núi đá (1483 – 1486)
sơn dầu, 199 x 122 cm
(ảnh của tác giả)

La Belle Jardinière của Raphael

La Belle Jardinière (1507) của Raphael

Raphael La Belle Jardinière (trích đoạn) sơn dầu trên ván gỗ, 122 x 80 cm

Raphael
La Belle Jardinière (trích đoạn)
sơn dầu trên ván gỗ, 122 x 80 cm
(ảnh của tác giả)

Trước bức Mona Lisa. Hình đỏ bên trái là biển cảnh báo kẻ cắp móc túi.

Trước bức Mona Lisa.
Hình đỏ bên trái là biển cảnh báo kẻ cắp móc túi.
(ảnh của tác giả)

Bức hoạ duy nhất cuả Leonardo tại Louvre trông sáng sủa là bức “Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng với Thánh Anne” vì mới được “tẩy rửa” vào năm 2011. Nhưng, cũng tựa như vụ phục chế vòm trần Sistine, vụ tẩy rửa này đã gây xì-căng-đan vì bị cho là quá tay, khiến bầu trời và áo choàng của Đức Mẹ đột nhiên trở thành xanh lè như tranh Cézanne. Vụ này đã khiến hai chuyên gia hàng đầu của Pháp, bà Ségolène Bergeon Langle, nguyên giám đốc phục chế của bảo tàng Louvre và các bảo tàng quốc gia Pháp, và ông Jean-Pierre Cuzin, nguyên giám đốc ban hội hoạ của bảo tàng Louvre, phải rút khỏi hội đồng cố vấn các bảo tàng Pháp. Vụ phục chế đã chia rẽ hội đồng thành hai phe. Một phe cho rằng bức tranh đã bị tẩy rửa quá đà, trở nên quá sáng. Phe kia chấp nhận kết quả của tẩy rửa. Thậm chí đã xảy ra cả một cuộc tranh cãi liệu những chỗ đã bị rửa đi trên tranh có thực là lớp sơn được các thợ phục chế vẽ lên sau này hay đó là lớp láng của chính Leonardo!

Michael Daley, người điều hành trang web ArtWatch International, đã nhận xét nhân vụ phục chế này rằng “việc phục chế tranh bảo tàng đang trở thành một cái máy làm tiền trong đó số tiền về giá trị nghệ thuật không nhất thiết được tăng lên.” Tương tự như vậy, GS vật lý ĐH Idaho Ruprecht Machleidt, người thường xuyên tham dự hội thảo Covello, đã tuyên bố trước hội thảo quốc tế về vật lý hạt nhân INPC 2013 tại Florence tháng 6 năm ngoái rằng “khoa học không phải là chính trị. Một khi khoa học đã dính vào chính trị, trở thành chính trị, thì khoa học đã đi sai đường, không còn là khoa học nữa.

Leonardo da Vinci Đức Mẹ và Thánh Anne (1508) sơn dầu trên ván gỗ, 168 x 112 cm (trước khi tẩy rửa)

Leonardo da Vinci
Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng với Thánh Anne (1508)
sơn dầu trên ván gỗ, 168 x 112 cm
(trước khi tẩy rửa)

Bức Đức Mẹ và Thánh Anne cũa Leonardo sau khi được (bị) tẩy rửa

Bức “Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng với Thánh Anne” của Leonardo tại Louvre ngày 17. 5. 2014

Mặt của Thánh Anne trước (trái) và sau (phải) khi tẩy rửa

Mặt của Thánh Anne trước (trái) và sau (phải) khi tẩy rửa

Trong khi đó, trước kiệt tác “Người phụ nữ soi gương” của Titian thì chẳng mấy ai dừng chân, ngoài mình tôi say sưa săm soi và chụp hình ngang dọc. Ingres đã không nhầm khi nói: “Titian, đó mới là màu đích thực, đó là tự nhiên không cường điệu, không tỏa sáng gượng ép! Đó mới là đúng.

Titian Người phụ nữ soi gương (1515) sơn dầu trên canvas, 99 x 76 cm

Titian
Người phụ nữ soi gương (1515)
sơn dầu trên canvas, 99 x 76 cm
(ảnh của tác giả)

Titian Trích đoạn bức "Người phụ nữ soi gương"

Titian
Trích đoạn bức “Người phụ nữ soi gương
(ảnh của tác giả)

Titian Trích đoạn bức "Người phụ nữ soi gương"

Titian
Trích đoạn bức “Người phụ nữ soi gương
(ảnh của tác giả)

Từ gian Phục Hưng Ý bước sang gian hội hoạ Tân cổ điển và Lãng mạn Pháp thì cũng tựa như tụt từ lưng tuấn mã xuống lưng lừa. Những tươi mới trong thể hiện, nồng nhiệt trong tìm tòi của các thiên tài Phục Hưng nay được thay thế bằng các phong cách hàn lâm công thức cứng nhắc tới đờ đẫn mà hình hoạ tuyệt vời như của Ingres cũng không tài nào cứu vãn nổi. Trên cái nền lãnh đạm đó, Delacroix quả là đã làm nên một cuộc cách mạng, nhưng đó chỉ là cuộc cách mạng bên dưới. Nước men lộng lẫy trong tranh của Raphael, Veronese, sự bí ẩn của Leonardo và Titian đã vĩnh viễn biến mất.

Bên bức "La Grande Odalisque" (1814) của Ingres sơn dầu trên ván gỗ, 88.9 x 162.56 cm

Bên bức “La Grande Odalisque” (1814) của Ingres
sơn dầu trên canvas, 88.9 x 162.56 cm

Một lần nữa thánh đường hội hoạ Louvre đã rửa sáng mắt để tôi có thể nhìn rõ thêm hiện trạng thê thảm của hội hoạ đương đại. Salvador Dalí từng tuyên bố: “Nhưng nếu Dalí so sánh tranh của tôi, tức tranh của Dalí, với các kiệt tác lớn của thời Phục Hưng, với Velasquez, Raphael, hoặc Vermeer, thì lúc đó Dalí tuyệt đối không là cái gì cả. Dalí chỉ giỏi vì các hoạ sĩ khác quá kém.” Riêng về điểm này tôi đồng ý với Dalí 100%. Một lần nữa niềm tin của tôi vào chân lý của sự hoàn hảo lại được củng cố. Cảm ơn Ischia và Paris, cảm ơn khoa học và nghệ thuật.

Bên bức "Đóng đinh câu rút" (1457 - 1459) của Mantegna  sưn dầu trên ván gỗ, 67 x 93 cm

Bên bức “Đóng đinh câu rút” (1457 – 1459) của Mantegna
sơn dầu trên ván gỗ, 67 x 93 cm

22. 5 .2014

Thẻ: , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

2 phản hồi to “Từ Ischia tới Paris”

  1. khanhtranngo@aol.com Says:

    Bài viết thật giá trị và chi tiết. Xin chân thành cám ơn tác giả. Kính chúc họa sĩ Nguyễn Đình Đăng nhiều sức khoẻ. Trân trọng

  2. HuynhVu Says:

    Cảm ơn sự tận tâm của họa sĩ Nguyễn Đình Đăng qua bài viết .
    kính chúc họa sĩ sức khỏe dồi dào sau chuyến đi dài.
    Trân trọng !

Phản hồi của bạn:

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: