Trò chuyện với Salvador Dalí

Nguyễn Đình Đăng trích dịch

Lời giới thiệu của người dịch:

Alain Bosquet (1919 – 1998) là thi sĩ và văn sĩ Pháp, viện sĩ viện hàn lâm ngôn ngữ và văn chương Pháp thuộc hoàng gia Bỉ, từng đoạt nhiều giải thưởng, trong đó có giải Goncourt về thơ năm 1989, và được thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh. Bosquet kém Dalí 15 tuổi. Năm Dalí 60 tuổi (tức khoảng 1964 – 1965), Bosquet đã làm 10 cuộc phỏng vấn Dalí tại Hôtel Meurice ở Paris. Nội dung các cuộc phỏng vấn đó được Bosquet xuất bản năm 1966 qua NXB Pierre Belfond thành một cuốn sách tiếng Pháp nhan đề “Entretiens avec Salvador Dalí”. Cuốn sách sau đó được Joachim Neugroschel (1938 – 2011) dịch sang tiếng Anh nhan đề “Conversations with Salvador Dalí” và được xuất bản năm 1969 qua NXB E.P. Dutton & Co., Inc., tại New York.

Dưới đây là vài đoạn tôi trích dịch từ cuốn sách của Alain Bosquet (A.B.) trong đó Salvador Dalí (S.D.) nhận định về vài danh họa. Người dịch thêm hình minh hoạ và chú giải.

Salvador Dalí và con mèo rừng Babou của ông năm 1965

Salvador Dalí và con mèo rừng Babou của ông năm 1965

A.B. Vì sao “Dalí siêu phàm” lại đồng ý đề tên mình lên những thứ kém siêu phàm? Tôi muốn nói tới một bức tranh mà cá nhân tôi không quan tâm: bức “Bữa tối cuối cùng” của ông tại Bảo tàng quốc gia Washington D.C.

S.D. Theo con số thống kê, bức tranh mà cá nhân ông không quan tâm ấy là bức ăn khách nhất trong tất cả các bức tranh hiện đại. Số bưu ảnh in bản sao bức tranh đó nhiều hơn bất cứ bức nào của da Vinci hoặc của Raphael. Chiến lược của tôi đã được việc: Tại một thời điểm tôi đã quyết định vẽ những bức tranh được biết đến rộng rãi hơn bất cứ thứ gì trên thế giới. Kỳ công của tôi quả là tuyệt diệu. Tôi còn có thể đi xa tới mức nói rằng bức tranh đó một ngàn lần đẹp hơn tất cả các tranh của Picasso cộng lại. Chỉ một bức tranh đó thôi!

A.B. Ông cho rằng vượt qua Picasso là một sự lỗi lạc?

S.D. Không, không. Tôi xem mình là một hoạ sĩ rất tầm thường. Tôi đã luôn khẳng định rằng tôi là một hoạ sĩ rất tầm thường. Tôi chỉ đơn thuần tin rằng tôi là một hoạ sĩ giỏi hơn những hoạ sĩ đương thời. Nếu ông muốn, họ còn tồi tệ hơn tôi rất nhiều.

Salvador Dalí Lễ thánh của bữa tối cuối cùng (1955) 167 x 266.7 cm

Salvador Dalí
Lễ thánh của bữa tối cuối cùng (1955)
167 x 266.7 cm

*

A.B. Ông mất bao lâu để vẽ bức “Bữa tối cuối cùng“, bức ở Washington ấy?

S.D. Hai tháng rưỡi hoặc ba tháng.

A.B. Có nhiều hình hoạ chuẩn bị không?

S.D. Có ảnh chụp. Tôi luôn sử dụng tư liệu ảnh chụp. Đó là truyền thống. Praxiteles [1] từng đổ khuôn thẳng từ chân, tay, và bất kỳ thứ gì ông ta muốn tái tạo. Đối với một người vẽ như tôi, ảnh chụp là một yếu tố cực kỳ có ích.

Bức

Bức “Dalí được nhìn từ phía sau đang vẽ Gala từ phía sau được vĩnh hằng bằng sáu giác mạc giả tưởng phản chiếu tạm thời trong sáu tấm gương thực” (1972, trái) được Dalí vẽ từ tư liệu ảnh (phải) do Marc Lacroix chụp trước đó (cùng năm 1972).

*

A.B. Ông vẫn chưa cho tôi một câu trả lời rõ ràng: hội họa chiếm vị trí nào trong các hoạt động của ông một cách tổng thể?

S.D. Hội hoạ chỉ là một trong những phương tiện để biểu hiện thiên tài toàn bộ của tôi, hiện hữu khi tôi viết, tôi sống, khi bằng cách này hay cách khác tôi biểu thị ma thuật của mình.

A.B. Ma thuật gì vậy?

S.D. Ngay lúc này đây, một quý cô tôi không quen vừa bước vào, có lẽ để hỏi tôi vài câu liên quan tới khả năng làm một cuộc phỏng vấn trên truyền hình, hiện cô đang ngồi gần chỗ chúng ta. Hai đầu gối cô ta thật tráng lệ. Và hai đầu gối của cô sẽ là xuất phát điểm cho ma thuật của tôi. Sau đây, tôi sẽ dùng chúng như một phần tử trong tranh của tôi, một nhạc phẩm khác thường mà nền móng sẽ là hai đầu gối và khuôn mặt của cô. Nó sẽ không thể có cơ thất bại. Đó là thiên tài của tôi! Vì sao, mọi thứ nằm trong sự biến hình đó: ông tin rằng chúng ta sẽ hợp tác làm một cuốn sách; cô ta tin rằng cô ta sẽ kéo tôi ra trước camera truyền hình … Thế giới là một kẻ bị cắm sừng từ đầu đến đuôi. Điều quan trọng đối với cá nhân tôi là kéo từ mỗi khoảnh khắc ra những tế bào của chính sự hiện hữu của tôi và của khả năng tự tái tạo của tôi. Trong giây phút này trung tâm vũ trụ đang nằm huyền diệu trên hai đầu gối của quý cô vừa đến đó.

A.B. Tôi muốn biết điều đó.

S.D. Bức tranh là thứ nhỏ mọn so với ma thuật mà tôi phát xạ ra.

A.B. Hãy có lý trí một tí nào. Đối với tôi và tất cả chúng tôi, các bức tranh của ông mới là những thứ đáng kể nhất, và một số được vẽ từ 40 năm trước.

S.D. Chúng không đáng kể về mặt tạo hình. Chúng được vẽ kém.

A.B. Tôi không đồng ý. Ông nói “được vẽ kém” là sao?

S.D. Ý tôi nói Dalí siêu phàm của ngày hôm nay không có khả năng vẽ được thậm chí đến một bản sao kém cỏi tranh của Bouguereau hay Meissonnier, cả hai người này có thể vẽ giỏi hơn tôi một ngàn lần.

A.B. Ông đã từng cho tôi cái lý lẽ đó rồi.

S.D. Rõ ràng, tôi có thể vẽ giỏi hơn Picasso. Ông ta thậm chí không biết dùng màu nào cho hợp.

A.B. Vấn đề là ở chỗ ông là một trong những hoạ sĩ chính xác nhất trong thế kỷ XX – chính xác theo nghĩa truyền thống của từ này.

S.D. Không! Tôi là một trong những người hơi biết vẽ một tí! Nếu ông so tôi với bất kỳ một hoạ sĩ cổ điển nào thì tôi là một số không tuyệt đối.

*

A.B. Hãy bàn về Raphael. Đã có thời, khoảng 12 năm trước, ông từng cho Raphael điểm A về kỹ thuật. Rõ ràng ông đã chấm cho mình điểm A cộng.

S.D. Đúng, thật thú vị chấm điểm cho các hoạ sĩ, như thể họ là những học trò nghịch ngợm. Như ông biết, tôi đã phát bảng điểm hàng tuần, và đôi khi tôi đánh trượt cả Raphael.

A.B. Tuy vậy, phong cách cổ điển của Raphael đã gây cho ông một niềm kính trọng sâu sắc.

Đám cưới của Đức Mẹ Đồng trinh Trái: Tranh của Perugino vẽ năm 1500 - 1504 (234 x 185 cm). Phải: Tranh của Raphael vẽ năm 1504 (174 x 121 cm)

Đám cưới của Đức Mẹ Đồng trinh
Trái: Tranh của Perugino vẽ năm 1500 – 1504 (234 x 185 cm).
Phải: Tranh của Raphael vẽ năm 1504 (174 x 121 cm)

S.D. Chủ yếu là khía cạnh truyền thống của ông ta, phong cách hàn lâm của ông, và sự thiếu vắng hầu như hoàn toàn tính độc đáo của ông. Tôi có cùng quan điểm với nhà viết tiểu luận lừng danh Eugenio d’Ors [2], người từng nói: “Tất cả những gì không độc đáo là ăn cắp (plagiarism).” Raphael đã tỉ mỉ sao chép những gì sư phụ mình, Perugino, sáng tạo ra trước ông ta. Các bản sao chép chính xác của Raphael giống y hệt bản gốc trừ một vài sắc thái cỏn con. Trong “Đám cưới của Đức Mẹ Đồng trinh”, lấy cảm hứng từ Perugino, Raphael chỉ đơn thuần bớt đi 3 bậc của một motif kiến trúc [3] và vẽ đầu của một trong những hình người hơi nghiêng đi một tí. Bản sao cẩn thận đó, với những thay đổi tối thiểu, đã cho phép ông tạo ra một sự u sầu nhất định và truyền cho một số bức tranh của ông một tông màu lộng lẫy. Ông đã biết cách trở thành vĩnh hằng. Sao chép và sửa sang lại tí ti tốt hơn biến đổi hoàn toàn. Những người chủ trương cách mạng triệt để, như đồng hương của tôi, ngài Picasso khéo léo, đang làm, chỉ là những gã bị cắm sừng kinh tởm. Cũng như ông ta, họ muốn làm nổ tung mọi thứ, họ đập tan truyền thống, xóa sạch luật viễn cận, và kết cục là đã phản bội chính mình. Picasso, thay vì toàn tâm toàn ý ăn cắp cổ nhân, mà rất có thể sẽ đưa ông trở thành chính mình, thì lại đi làm hàng loạt các cuộc ăn cắp liên tiếp và đầy mâu thuẫn: sau khi bắt chước Toulouse-Lautrec, ông ta trả thù chính mình bằng cách bắt trước Van Gogh, người mà ông ta nhanh chóng bỏ rơi. Kế đó, ông bắt đầu vẽ theo kiểu Siêu thực. Hãy xem các tiền bối của Vermeer, ví dụ Peter de Hooch, mà tranh rất tương tự tranh của bậc thầy xứ Delft. Ta có thể thấy vẫn ngôi nhà ấy, vẫn những bàn tay ấy, và ta có thể kết luận rằng Vermeer đã bằng lòng đi theo truyền thống. Ông chỉ thêm vào một chi tiết, một sự tinh tế, một cái gì đó không thể nhận ra được ở chỗ nọ chỗ kia đến độ truyền thống, tuy vẫn được theo sát, đã biến thành một sự độc đáo chưa từng có.

Pablo Picasso Trái: Le Moulin de la Galette (1900) bắt chước Toulouse-Lautrec.  Phải: Margot (1901) chịu ảnh hưởng của Van Gogh.

Pablo Picasso
Trái: Le Moulin de la Galette (1900) bắt chước Toulouse-Lautrec.
Phải: Margot (1901) chịu ảnh hưởng của Van Gogh.

*

S.D. Cézanne chỉ đơn thuần là một hoạ sĩ đáng thương nhưng trung thực, với những cố gắng khổng lồ và nặng tính đầu óc quá mức. Ông biết câu chuyện tiếu lâm này rồi: Chuyện rằng mẹ Cézanne vừa chết; ông ta vội chạy đến một hoạ sĩ tỉnh lẻ mà ông đánh giá cao để nhờ ông này vẽ chân dung cho người đã khuất. Khi ông kia trỏ tay vào Cézanne bảo chính ông cũng là một hoạ sĩ tăm tiếng không tầm thường kia mà, thì Cézanne than: “Nhưng tôi không biết vẽ.” Cézanne nhỏ nhoi hiểu rõ ông không biết làm thế nào để mô phỏng nét mặt mẹ mình. Vậy chúng ta phải nghĩ gì về một người đã tiêu cả đời để vẽ những quả táo lồi và không vẽ được gì ngoài những quả táo lõm? Cứ tưởng tượng mà xem, những quả táo được vẽ lộn ngược từ trong ra ngoài; phấn khích đấy chứ nhỉ? Có cái gì đó trái khoáy trong chuyện vẽ những quả táo hỏng (apples manqués), những quả táo vụng về và lúc nào cũng quá xấu xí.

Những quả táo

Những quả táo “lõm” (1890 – 1894) của Cézanne

*

A.B. Nếu ông được phép phá hủy toàn bộ các tác phẩm của 3 hoạ sĩ, phá hủy để không thể khôi phục lại nổi, thì ông sẽ chọn ai?

О.А. Kiprensky Chân dung Ekaterina Avdulina (1822)

О.А. Kiprensky
Chân dung Ekaterina Avdulina (1822)

S.D. Đầu tiên là các tác phẩm của Turner, người tôi coi là hoạ sĩ tồi tệ nhất thế giới. Sau đó là các bức tranh của Paul Cézanne. Thứ ba là các bức tranh rởm của Ingres do một hoạ sĩ người Nga vẽ và là những nguyên mẫu của sự ngu dốt 3 chiều [4].

A.B. Ý tôi nói các hoạ sĩ đương đại cơ, những hoạ sĩ hiện đại nhất ấy.

S.D. Thế thì Gauguin. Ông ta cũng tồi tệ như Turner.

*

A.B. Ông đòi hỏi gì từ các gái trinh khi họ tự nguyện hiến dâng cho ông?

S.D. Phẩm tiết.

A.B. Ông làm gì với gái điếm?

S.D. Lần đầu tiên tới Paris, tôi vẫy taxi đi gặp Picasso.

A.B. Picasso gái điếm hay Picasso hoạ sĩ?

S.D. Hoạ sĩ. Tôi là người rất ngưỡng mộ ông ta. Nhưng rất nước đôi. Cảm giác của chúng tôi về nhau rất vừa yêu vừa ghét. Đối với tôi Picasso đã chết rồi: Ông ta đã trở thành cha tôi, và tham vọng trong tiềm thức của tôi là cắm sừng cha tôi và giết chết ông ta … Đó là chuyện rất phức tạp. Sau khi nói chuyện với Picasso, tôi nhảy lên một taxi khác và hỏi tài xế: “Ông có biết các nhà thổ Paris không?” Tài xế trả lời: “Biết hết.” Có lẽ hắn bốc phét, nhưng quả thực chỉ trong một đêm tôi đã ghé thăm một số lượng nhà thổ không thể tin được. Tôi cực sợ bị dính bệnh. Nỗi sợ này đã ăn sâu từ thời thơ ấu. Và vì thế, như đã nói với ông, tôi chỉ rút gọn về thứ tình yêu phong nhã ở khoảng cách 2 mét giữa tôi và gái gọi. Từ đó tôi luôn giữ nguyên khoảng cách này và luôn ca tụng tình yêu phong nhã.

Dịch xong ngày 8.2.2015

Chú giải:

[1] Praxiteles (t.k. IV tr. CN) – nhà điêu khắc nổi tiếng nhất vùng Attica thời Hy Lạp cổ đại (bao gồm thủ đô Athens ngày nay). Praxiteles là người đầu tiên làm tượng phụ nữ khỏa thân kích thước người thực.

[2] Eugenio d’Ors (1881 -1954) là nhà văn, viết tiểu luận, nhà báo, triết gia và phê bình nghệ thuật người Catalonia (Tây Ban Nha), tức đồng hương với Salvador Dalí. Ông học luật tại Barcelona và nhận bằng tiến sĩ tại Madrid.

[3] Dalí nhớ nhầm. Nhà nguyện trong tranh của Raphael có 8 bậc trong khi trong tranh của Perugino có 6 bậc. Dalí cũng hơi quá lời khi coi bức tranh của Raphael là bản sao bức của Perugino.

[4] Dalí hoặc Bosquet đã tế nhị không nêu tên hoạ sĩ Nga này nhưng theo người dịch hoạ sĩ đó là Orest Adamovich Kiprensky (1782 – 1836) – hoạ sĩ chân dung đầu tiên của Nga trong t.k. XIX. Cũng như Ingres, Kiprensky có tham vọng vẽ tranh theo đề tài lịch sử kết hợp các xu hướng cổ điển và lãng mạn. Song cũng như Ingres nổi tiếng vì chân dung tại Pháp, Kiprensky được đánh giá cao tại Nga nhờ tranh chân dung vẽ theo phong cách của Ingres.

Trong chú giải tại trang 63 – 64 bản in năm 1948 của cuốn “50 bí mật của tay nghề ma thuật“, Dalí nhận định: “Người Nga, mặc dù với lãnh thổ trải rộng mênh mông và khí chất nghệ sĩ cao độ (xét theo các nhà văn và nhạc sĩ của họ), chưa bao giờ từng có lấy một hoạ sĩ vĩ đại. Họ không có một người như thế hiện nay và sẽ không bao giờ có một người như vậy, và lời lý giải cho hiện tượng kỳ lạ đó, bên cạnh nhiều lý giải khác tinh tế hơn, là tuyết. Không một nước băng tuyết nào từng sản sinh ra các hoạ sĩ giỏi, bởi vì tuyết là kẻ thù lớn nhất và tai hại nhất của võng mạc. Đó là sự siêu phủ nhận tất cả văn hóa nhìn. Tuyết trắng đơn giản là làm lóa mắt, vì vậy màu sắc của các hoạ sĩ xứ tuyết ngả tím, do các anilin acid làm tích tụ lại, và đầu độc mắt cũng như tinh thần. Đó là lý do vì sao các hoạ sĩ Nga là các hoạ sĩ hòa sắc kém nhất.

______________

© Nguyễn Đình Đăng, 2015 – Người dịch giữ bản quyền bản dịch tiếng Việt. Bạn đọc có thể lưu giữ bản dịch này để sử dụng cho cá nhân mình và chia sẻ miễn phí trên internet. Mọi hình thức sử dụng khác như in ấn, sao chép lại bản dịch này, dù là một phần hay toàn bộ, để phát hành trong các ấn phẩm như sách, báo chí, luận văn, hay nhằm mục đích thương mại (kể cả tại các trang thư viện điện tử trên internet mà để đọc được hay tải xuống người đọc phải trả tiền để mở tài khoản) v.v. đều vi phạm bản quyền nếu không nhận được sự đồng ý bằng văn bản của người dịch.

Thẻ: ,

Một phản hồi to “Trò chuyện với Salvador Dalí”

  1. Nguyễn Đình Đăng Says:

    Dưới đây là các comment cho bản dịch này từ Facebook của tôi.

    Đỗ Thiên Đồng
    Em xin được chia sẻ .Rất cảm ơn Anh về bài dịch .
    February 8 at 6:57pm

    Ly Thu Ha
    Bản dịch hay quá…Và cũng thấy Salvador Dalis đúng là 1 thiên tài đầy tự tin, ngạo nghễ…Cám ơn anh Nguyễn Đình Đăng nhiều…
    February 9 at 12:54am

    Duc Hoa Nguyen
    Rất ngông cuồng nhưng cũng nên xem. Cảm ơn anh Đăng và xin phép chia sẻ.
    February 9 at 2:36pm

    Bop Lavender
    Picasso đàng điếm ?
    February 9 at 2:51pm

    Nguyet Nguyễn Thu
    Em xin phép chia sẻ. Cảm ơn anh.
    February 9 at 3:05pm

    Nguyễn Đình Đăng
    @ Bop Lavender: Đây một trong những đoạn rất thú vị của cuộc trò chuyện này. Bosquet hỏi Dalí làm gì với gái điếm thì Dalí lại trả lời là lần đầu tiên tới Paris ông gọi taxi đi gặp Picasso. Vì Bosquet đang hỏi về gái điếm, nên Bosquet muốn xác định rõ là Dalí đi gặp “cô gái điếm tên là Picasso” (Picasso the prostitute) hay đi gặp “ông hoạ sĩ tên là Picasso”(Picasso the painter). Mặc dù Bosquet biết thừa Dalí đi gặp ai, nhưng câu hỏi này rất “đểu”, vì “the prositute” (danh từ) khi được áp dụng cho văn sĩ hay hoạ sĩ thì có nghĩa là “một người cố tình đánh mất phẩm cách tài năng của mình vì đồng tiền (như một con điếm)”. Dalí cũng hài hước không kém. Tuy khẳng định là “Picasso hoạ sĩ” (chứ không phải Picasso gái điếm), Dalí lại nói sau khi gặp Picasso xong thì ông đi gặp gái điếm! Ông không nói ông chuyện trò với hoạ sĩ Picasso như thế nào, nhưng với gái điếm thì ông luôn đứng cách 2 m để khỏi dính bệnh. Có thể hiểu ông muốn ám chỉ với Picasso ông cũng làm như vậy (đễ khỏi lây nhiễm hội hoạ của Picasso). Sợ dính bệnh nhưng vẫn đi gặp, điều này giải thích cái quan hệ nước đôi và mâu thuẫn (ambivalent hay vừa yêu vừa ghét) mà Dalí đã đề cập.
    February 9 at 3:54pm

    Bop Lavender
    @ Nguyễn Đình Đăng: Các danh hoạ ‘mắng nhau’ zữ kinh nhưng nghe chừng Dalí trong bụng cũng hơi bị ‘yêu’ Pi hehe ,,,
    February 9 at 4:34pm · Like · 1

    Bop Lavender
    Pi cũng zành cho Dalí nhiều tình cảm nể trọng, mến phục tài năng, có ghét là ghét việc Dalí thân với tướng Franco phát xít. Trong trò truyện với Posquet, Dalí hình như còn thổ lộ sự khoái trá với Mao hehe và tiếc là chưa có huân chương họ Mao tặng :))))
    February 9 at 4:40pm

    Nguyễn Đình Đăng
    Các phát biểu chính trị của Dalí thực ra rất khôn khéo và cũng rất xỏ xiên. Dalí nói ông nhận huân chương Thập tự Lớn của Hoàng hậu Isabella Công giáo từ Franco (năm 1964) đơn giản là vì Liên Xô chưa bao giờ tặng ông giải thưởng Lenin. Nếu tặng thì ông cũng sẽ nhận. Ông nói thậm chí nếu Mao tặng ông giải thưởng thì ông cũng nhận. Các phát biểu này một mặt cho thấy ông “tỏ ra” kính trọng các giải thưởng của các quốc gia nhưng mặt khác lại cho thấy ông chẳng coi chúng ra cái gì hết, như một mớ đồ trang trí mà thôi (Cũng lại “vừa yêu vừa ghét”). Ông chấp nhận tất miễn là chúng thỏa mãn lòng háo danh vô bờ bến của ông và có thể làm tăng thêm số dollars ông thu được. Ngoài ra, câu về Liên Xô không tặng ông giải thưởng Lenin còn nhằm “đá đểu” Picasso, người được Liên Xô tặng giải thưởng Lenin vì củng cố tình hữu nghị giữa các dân tộc năm 1962 (Đây nguyên là giải thưởng hòa bình Stalin, được đổi tên năm 1956 sau khi Stalin bị Khrushchiov hạ bệ). Việt Nam có 2 người được giải thưởng này là Lê Duẩn (1980) và Nguyễn Hữu Thọ (1985). Năm 1989 giải thưởng này được đổi tên thành giải thưởng Hòa Bình quốc tế Lenin. Sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991 giải thưởng này cũng tiêu luôn. Trong khi đó huân chương Thập tự của Hoàng hậu Isabella, do vua Tây Ban Nha Ferdinand VII đặt ra từ năm 1815, thì vẫn còn, chưa bao giờ đổi tên và là giải thưởng cao nhất của Tây Ban Nha, chứ không phải do chính quyền phát xít Franco đặt ra.
    February 9 at 8:36pm

    Bop Lavender
    Hehe ,,, cụ Dalí không zám từ chối phần thưởng được trao từ tay Franco ,,, cụ Thọ Lê ta zám từ chối zải Nobel chỉ vì không thích nhận chung zải với ‘địch’, hic
    February 9 at 7:33pm

    Nguyễn Đình Đăng
    Mark Twain từng nói rằng từ chối giải thưởng là chấp nhận nó bằng một cách khác, ầm ĩ hơn bình thường. (To refuse awards is another way of accepting them with more noise than is normal.)
    February 9 at 7:55pm

    Bop Lavender
    hehe ,,, cố 6 Thọ thánh thật, thánh hơn cả Dalí Chí Thánh :)))))
    February 9 at 7:56pm · Like

    Bop Lavender
    mà cụ Dalí xài cái chủ đề ‘Cầu kinh chiều” của Vermeer hơi bị nhiều đến mức thành nhàm, đáng tiếc quá
    February 9 at 7:59pm

    Nguyễn Đình Đăng
    Hoạ sĩ nào cũng sản xuất ra junk hay giẻ rách. Vẽ càng nhanh càng nhiều thì càng lắm giẻ rách. Trong cái mớ gọi là tác phẩm đó mà có được vài bức không tầm thường đã là may mắn rồi, bởi nhiều khi chỉ toàn là giẻ rách. Vì tổng số tranh của Dalí ít hơn của Picasso nên số “giẻ rách” Dali sản xuất ra cũng ít hơn Picasso nhiều lần.
    February 11 at 12:38am

    Nguyễn Đình Đăng
    Điều đáng tiếc mà những bức tranh Dalí nhai lại chính mình gây ra cho mỹ thuật thế giới không lớn bằng việc ông đã ký khống tới khoảng 350 ngàn tờ giấy trắng để bán (Theo ước lượng của Captain Moore, trợ lý của Dalí). Bản thân Dalí phủ nhận con số lớn như vậy. Những người làm tranh giả sau đó đã in lên các tờ giấy có chữ ký Dalí này các bản sao thạch bản và bán ra với giá cắt cổ, bảo đó là tác phẩm xịn của Dalí. Hiện nay trên thị trường nghệ thuật vẫn còn rất nhiều bức tranh in giả Dalí như vậy.

    Song, một trong những điều đáng tiếc nhất từ t.k. XX là các nhà sưu tập nghệ thuật đã biến đổi giá trị văn hóa của nghệ thuật thành một hình thức đầu tư tài chính. Hậu quả là hai nhà đấu giá Sotheby và Christie’s đã trở thành các trọng tài mới của thị hiếu nghệ thuật ngày nay, khiến nghệ thuật bị biến tướng từ chỗ là nghệ thuật trở thành là hàng hóa. Điều này đã biến không ít hoạ sĩ thành prostitutes. Nghệ thuật (Art) bị thay thế bằng “Làm nghệ thuật” (Making art), tương tự như Tình Yêu (Love) bị thay thế bằng “Làm tình” (Making love) và “Làm tiền” (Making money). Dĩ nhiên Nghệ thuật và Tình yêu đích thực vẫn còn đó, nhưng người ta không với tới, mà nhập nhằng ngộ nhận cái gì cũng có thể là Nghệ thuật, như thể cứ làm tình là có Tình Yêu.
    February 9 at 11:42pm

    Bop Lavender
    Ối zời, lại nói về quý ngài ‘Thuyền trưởng’ Peter Moore, cánh tay phải của Dalí trong hơn 20 chục niên, một kẻ láu cá, zỏi bày những trò lố (mà Dalí thích mê, thế mới tài), chính y đầu têu những vụ làm khống zấy vẽ kí sẵn tên hoạ sĩ để bán và chế tranh zởm (vì theo zao kèo hoạ sĩ phải chia cho y 10% thu nhập từ tranh đồ hoạ). Cuối đời, ‘Thuyền trưởng’ bị túm vì tội zả tranh và phá tranh Dalí, song zo zà quá (85 sọi) nên toà tha với điều kiện vợ chồng Moore ‘Thuyền trưởng’ phải xuỳ mấy trăm ngàn bảng đền cho quỹ Dalí-Gala hehe :))))
    Dalí chết zồi (không biết có tái sinh được theo công nghệ tôm-đông-lạnh mà hoạ sĩ ấp-ủ không) nhưng vẫn đùa zỡn với công chúng như lúc sinh thời, vẫn ‘vẽ’ ầm ầm qua các tấm zấy nền ký tên thật :)))
    Vụ này khác cụ Phái: mất zồi vẽ ‘khoẻ’ hơn nhờ bàn tay của các tử-đệ-truyền-nhân mất nết (khác zì Moore). Thương thay !!!
    February 10 at 12:25pm

    Nguyễn Đình Đăng
    Moore bị tòa ở Catalonia phán vào năm 2004 phải trả 1 triệu bảng hay 1.6 triệu USD cho Gala – Salvador Dalí Foundation. Moore chết năm 2005. Chuyện giả tranh không chỉ là lỗi của riêng Moore mà còn do lòng tham không đáy của Dalí. Dalí công khai nói rằ rằng ông thích tiền, và khi đã có nhiều tiền, ông lại muốn nhiều hơn nữa, hơn nữa và hơn nữa. Ông huênh hoang tuyên bố với BBC rằng Salvador Dalí rất giàu, yêu tiền và vàng vô biên.

    Các “nghệ sĩ” đương đại sau này như Damien Hirst đã bắt chước Dalí cách PR bằng phát ngôn gây sốc như vậy. Cái khác nhau rõ nhất giữa Dalí và Hirst là Dalí biết vẽ còn Hirst thì không.

    Tây Ban Nha có 2 hoạ sĩ lớn ở t.k. XX thì đều khiến người Tây Ban Nha cảm thấy khó xử. Họ vừa tự hào về Picasso lại vừa hận ông vì ông từng nguyền rủa ám chỉ dân Tây Ban Nha đã lựa chọn và cam chịu thân phận sống dưới ách độc tài Franco. Picasso thề không thèm quay về quê hương chừng nào còn chính thể độc tài, và ông đã giữ đúng lời thề. Ông chết trước Franco 2 năm! Cách đây nhiều năm, trong một lần trò chuyện tại Seville, tôi đã vô ý nói rằng không có nước Pháp thì không có Picasso hoạ sĩ. Mấy người Tây Ban Nha nói tôi đã thọc ngón tay vào vết thương của họ.

    Dalí cũng vậy, Tây Ban Nha vừa tự hào về ông, nhưng cũng lại vừa có không ít người coi ông là phản bội. Ông ủng hộ chính thể độc tài phát xít Franco, chính thể đã giết bạn ông là thi sĩ Garcia Lorca. Ông từ bỏ vô thần mà ông thường rêu rao suốt đời để theo Công giáo.

    Ian Gibson – tác gỉả cuốn “Cuộc đời nhục nhã của Salvador Dalí” – đã viết rằng nhiều người Tây Ban Nha coi Dalí đã phản bội chính mình, phản bội siêu thực, phản bội nền dân chủ Tây Ban Nha (Dalí công khai tuyên bố ủng hộ chế độ quân chủ), phản bội chính tài năng của mình như một hoạ sĩ. Nhưng Gibson cũng nói đó chính là Dalí – một người không phải là người bình thường. Bản thân Dalí thừa nhận mình là một tên phản bội bẩm sinh. May cho Dalí là Tây Ban Nha sau Franco là đất nước dân chủ nên ai ghét Dalí thì cứ ghét chứ chằng có “quần chúng tự phát” nào làm gì được ông.

    Tôi lại nhớ đến Williams Somerset Maugham, người từng nói “Đối với tôi điều lý thú nhất trong nghệ thuật là nhân cách của nghệ sỹ; và nếu nhân cách đó xuất chúng, tôi sẵn lòng tha thứ cả ngàn lỗi lầm.” Dalí là một trong những nghệ sĩ xuất chúng như vậy.
    February 10 at 10:10pm

Phản hồi của bạn:

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: