Mô phỏng và phong cách

Charles Blanc

Nguyễn Đình Đăng dịch

Charles Blanc (1813 - 1882)

Charles Blanc (1813 – 1882)

Lời người dịch:

Trích dịch từ cuốn “Quy tắc của các nghệ thuật hình họa” (Grammaire des arts du dessin) (1881) của sử gia và nhà phê bình mỹ thuật Pháp Charles Blanc (1813 – 1882), viện sĩ viện Hàn lâm Mỹ thuật Pháp và viện Hàn lâm Pháp, từng giữ chức giám đốc vụ Mỹ thuật thuộc Bộ Nội vụ Pháp và hiệu trưởng trường Mỹ thuật Paris (École des Beaux-Arts). Cuốn sách này từng được các danh hoạ đương thời như Georges Seurat, Paul Gauguin, Vincent Van Gogh sử dụng. Đặc biệt lý thuyết màu sắc của Charles Blanc trong cuốn sách đã được các hoạ sĩ Tân Ấn tượng dùng làm cơ sở khoa học cho cách phối màu quang học của họ và đã có ảnh hưởng tới hoà sắc của Van Gogh thời kỳ ở Arles. 

                                                                                                                       N.Đ.Đ

Phaedrus [1] có kể câu chuyện về một nghệ sĩ nổi tiếng bắt chước tiếng ngỗng kêu, khiến các khán giả La Mã vô cùng thích thú. Một gã nông dân, có tham vọng muốn vượt nghệ sĩ, bèn giấu một con ngỗng thật dưới áo khoác cho nó kêu, trong khi gã mấp máy môi giả vờ bắt chước tiếng ngỗng. Nhưng lạ thay, gã bị khán giả la ó huýt sáo đuổi xuống.

Câu chuyện ngụ ngôn này chứa đựng một định nghĩa đúng đắn về nghệ thuật.

Cái mà các khán giả La Mã quan tâm hoàn toàn không phải tiếng ngỗng kêu, mà là việc nghệ sĩ đã thành công trong việc mô phỏng tiếng ngỗng, bởi người ta không việc gì phải đến nhà hát để nghe tiếng kêu của một con gia cầm tầm thường và quen thuộc như con ngỗng. Nhưng ngay sau khi sự vật trong tự nhiên đi qua ý chí của nghệ sĩ, nó đã trở nên sắc sảo khiến mọi người cảm thấy thú vị, bởi vì con người được thêm vào tự nhiên, homo additus naturae. Như vậy, định nghĩa đẹp đẽ mà Francis Bacon [2] đưa ra thực ra đã có trong câu chuyện ngụ ngôn của Phaedrus từ nhiều thế kỷ trước.

Mô phỏng là gì? Đó là một bản sao trung thành, không có gì hơn. Nếu nghệ thuật vẽ không có mục đích nào khác ngoài việc chép lại tự nhiên thì nó sẽ chỉ là một thứ vô tích sự, như những ngôn từ thừa.

(…)

Pascal từng nói: “Hội hoạ thật hão huyền khi nó làm người ta ngưỡng mộ cái giống sự vật, trong khi bản gốc của chúng trong tự nhiên thì chẳng được ai ngưỡng mộ!” Pascal sẽ đúng nếu như hội hoạ chỉ mô phỏng. Nhưng, phải nhắc lại rằng, nghệ sĩ là người diễn giải tự nhiên; chính nghệ sĩ là người phát hiện ra ý nghĩa ẩn giấu trong tự nhiên, ý nghĩa sâu xa của bài thơ tối nghĩa, để dịch tự nhiên ra bằng ngôn ngữ của mình, hoặc còn hơn thế, ban tặng cho tự nhiên một tiếng nói, bởi lẽ tự nhiên luôn im lặng.

Mô phỏng là khởi đầu của nghệ thuật nhưng không phải là nguyên lý. “Tài mô phỏng các vật thực, như Reynolds từng nói, chắc chắn là thứ đầu tiên mà nghệ sĩ phải đạt được; nhưng đồng thời đó cũng phải là thứ cuối cùng gần với sự hoàn hảo nhất.”

(…)

Chỉ có tự nhiên, kho tư liệu mênh mông, là chứa đựng mọi yếu tố của nghệ thuật, kể cả những yếu tố huyền ảo, bởi người ta không thể tạo ra một con quái vật mà chân cẳng lại không có trong tự nhiên, một đám mây mà lại không bay qua bầu trời, hay một giống cây hoàn toàn xa lạ với nhà thực vật học. Vì thế nhà điêu khắc và hoạ sĩ phải nghiên cứu kỹ cuộc sống, phải liên tục ký hoạ, nặn mẫu, và vẽ từ tự nhiên, bởi họ không thể diễn dịch tự nhiên nếu không hiểu biết nó. Nhưng người nào không biết thoát khỏi việc mô phỏng tự nhiên một cách nô lệ, không biết giữ khoảng cách với thực tại, không biết xóa bỏ những tiểu tiết, và không biết biến đổi tự nhiên theo suy nghĩ cùa mình, thì người đó không phải là một bậc thầy.

Tột đỉnh của mô phỏng, đó là tạo ra một bản sao khiến người ta tưởng là bản gốc; nói một cách khác, kiệt tác của kẻ mô phỏng là tạo ra ảo giác, không phải để đánh lừa chim chóc, mà đề đánh lừa con người [3]. Kết quả là, những hình nhân bằng sáp, mặc quần áo thật, có lông mi lông mày thật, theo kiểu nhằm đánh lừa người xem, sẽ được coi như những tác phẩm nghệ thuật ở mức cao nhất. Trong khi đó, không có gì trên thế gian lại tởm lợm hơn những con ngoáo ộp này; không có gì giả dối hơn sự giống hoàn hảo đó. Vì sao? Vì chúng ta ngầm hiểu rằng ý tưởng là nguyên lý duy nhất hiện hữu trong các vật sống, và rằng, bất cứ nơi nào vắng bóng ý tưởng nơi đó chỉ có những thây ma, những cái bóng hư ảo mà thôi.

Tôi cho rằng Van Dyck cũng chỉ vẽ những hình nhân đó, họ chỉ tinh anh linh lợi trên bề mặt, nhưng họ sống động bởi cái tư duy bao trùm hình hài họ và bởi các chân dung của họ như muốn nói: “Tôi tư duy vậy nên tôi sống.” Tách hẳn khỏi sự hạn chế làm một bản sao chính xác của thực tại, nghệ thuật phải thâm nhập vào tinh thần của vạn vật, nó phải làm thức tỉnh linh hồn các nhân vật của nó. Vì thế nó có thể không chỉ cạnh tranh với tự nhiên mà còn vượt cả tự nhiên. Ưu thế thật sự của tự nhiên là ở chỗ nào? Đó là cuộc sống kích hoạt mọi hình dạng. Nhưng con người sở hữu một báu vật mà tự nhiên hoàn toàn không có: đó là tư duy. Tư duy còn hơn cả cuộc sống, bởi đó là cuộc sống ở tiềm năng cao nhất của nó, cuộc sống trong vinh quang của nó. Vậy nên con người có thể tranh đấu với tự nhiên để biểu lộ tư duy trong những hình thức của nghệ thuật, cũng như tự nhiên biểu lộ cuộc sống. Chính trong nghĩa này mà Hegel đã có thể nói rằng sáng tạo nghệ thuật thậm chí còn chân thực hơn cả các hiện tượng trong thế giới vật lý và chân thực hơn cả các thực tại lịch sử.

Anthony van Dyck Chân dung một phụ nữ cầm bông hồng (1635 - 1639) sơn dầu trên canvas, 101.5  79.5 cm Isabella Stewart Gardner Museum, Boston

Anthony van Dyck
Chân dung một phụ nữ cầm bông hồng (1635 – 1639)
sơn dầu trên canvas, 101.5  79.5 cm
Isabella Stewart Gardner Museum, Boston

Chính lịch sử sẽ cho chúng ta một ví dụ lạ lùng ở đây.

Tất cả những người thông minh đều thấy một điều rằng các sự kiện đáng nhớ, khi chúng được mô tả trong những cuốn sách của Tacitus hay của Titus Livius, thường chân thực hơn so với lời kể của những người đã chứng kiến các sự kiện đó. Sử gia thời đại chúng ta hiểu rõ hơn ai hết cảnh tranh cãi gay cấn tại nghị trường, cảnh trận mạc nơi các sĩ quan lao vào tham chiến. Trong khi gỡ rối và chắt lọc các sự việc, sử gia nhìn thấy tổng thể của sự kiện, hình dung ra cảnh bài binh bố trận, làm rõ các ý đồ dẫn dắt mọi hướng tiến quân, hiểu được tư duy hoạch định các màn kịch vĩ đại, trong khi các diễn viên không biết gì hơn ngoài các biến cố và các cuộc tấn công. Là nghệ sĩ theo cách của mình, nhà văn phân biệt những chi tiết đặc trưng và những bề ngoài giả tạo. Y nắm bắt và phơi bày cái có ý nghĩa trong những tình huống đó, và cuối cùng y đạt tới một sự chân thực to lớn, rõ ràng hơn, cao cả hơn, sinh động hơn những chân lý nhỏ bé hợp thành chính chân lý.

Nhưng sử gia chỉ hành động theo trí tuệ; y bịt đi các cảm xúc, hoặc giảm bớt các biểu cảm. Trái lại, nghệ sĩ hoàn thiện tác phẩm của mình bằng toàn bộ sức mạnh của tinh thần và cảm xúc; y gửi gắm trái tim của mình vào đó. Trong việc mô phỏng y cũng lựa chọn cái có thể biểu thị toàn bộ cá tính của y, điều đó có nghĩa là y mô phỏng tự nhiên không phải theo cách tự nhiên là tự nhiên, mà theo cách tự nhiên chính là y, nghệ sĩ. Từ đây mà sinh ra các đặc tính khác nhau của nghệ thuật, mà người ta gọi là các kiểu cách khác nhau.

Một phụ nữ đi ngoài phố tại La Mã. Michelangelo trông thấy, vẽ nàng đoan trang và kiêu hãnh. Raphael cũng thấy nàng, nhưng trong mắt ông, nàng hiện ra với vẻ đẹp yêu kiều và thuần khiết, với các cử chỉ êm ái, trinh nguyên ẩn trong các tà áo. Nhưng nếu Leonardo mà gặp nàng, ông sẽ phát hiện trong nàng một vẻ đẹp duyên dáng còn sâu kín hơn, một sự ngọt ngào thấm thía hơn; ông sẽ ngắm nàng qua tấm mạng che con mắt ẩm ướt, và ông sẽ vẽ nàng thật tinh tế như được bao bọc trong tấm lụa mỏng của hoàng hôn. Như thế, cũng cùng một con người, nhưng dưới nét bút của Michelangelo thì trở thành bà đồng Sibyl kiêu kỳ, trên tranh của Raphael thì trở thành Trinh nữ thánh thiện, còn trong hội hoạ của Leonardo là một người phụ nữ đáng được tôn thờ.

Trong các ngành nghệ thuật khác nhau cũng vậy: mỗi nghệ sĩ in dấu ấn cá tính lên các mô phỏng của mình. Phong cảnh biến đổi vô tận theo hàng ngàn sắc thái của cảm xúc và khí chất cá nhân. Berghem thấy cánh rừng này tươi vui, trong khi Ruisdael lại thấy nó tối tăm và sầu muộn; Hobbema chỉ thích nó ở khía cạnh thôn dã, ông ngắm nó với đôi mắt và tâm trạng của một kẻ săn bắn trái phép. Albert Cyup chỉ ngắm những bờ cát trù phú của dòng Meuse dưới ánh mặt trời dịu dàng lúc bốn giờ; van der Neer chỉ vẽ làng mạc Hà Lan dưới ánh trăng với mong muốn thi vị hóa những mái tranh bằng ánh sáng mờ ảo đầy bí mật của ban đêm. Nicolas Poussin khuếch đại tự nhiên, như thể ông thấy nó chưa đủ lớn cho trái tim mình; tư duy của ông lang thang, như một thi thần đoan trang, trong vùng thôn quê La Mã, hiện ra với ông khi thì như cõi tiên của các triết gia, lúc thì như mặt đất sao Thổ; Le Guaspre khiến nơi này nghiêng ngả và thổi vào đó những cơn bão; Claude Lorrain lại muốn chốn này đúng với tinh thần của nó, tức yên tĩnh, uy nghi, chói lọi.

Aert van der Neer Cảnh đêm trăng với cây cầu (1648 - 1650) sơn dầu trên ván gỗ, 78.4 x 110.2 cm National Gallery of Art, Washington D.C.

Aert van der Neer
Cảnh đêm trăng với cây cầu (1648 – 1650)
sơn dầu trên ván gỗ, 78.4 x 110.2 cm
National Gallery of Art, Washington D.C.

Song ngoài các kiểu cách khác nhau này, mà thực chất là những sắc thái trong cách cảm thụ của các bậc thầy lớn, còn có một cái gì đó tổng quát và tuyệt đối mà người ta gọi là phong cách. Cũng giống như kiểu cách là dấu ấn của người này hay người kia, phong cách là dấu ấn của tư duy con người lên tự nhiên. Trong ý nghĩa cao cả này, nó biểu thị một tập hợp các truyền thống mà các bậc thầy đã truyền cho chúng ta từ thế hệ này sang thế khác, và trong khi thâu tóm toàn bộ các phương thức cổ điển nhắm vào cái đẹp, nó là chính cái đẹp. Nó là sự đối nghịch với tự nhiên thuần khiết: nó là lý tưởng. Hoạ sỹ có phong cách nhìn thấy khía cạnh lớn lao, kể cả của những cái bé nhỏ, kẻ mô phỏng hiện thực nhìn thấy khía cạnh bé nhỏ, kể cả của những cái lớn lao. Một tác phẩm có phong cách khi các vật trong đó được trình bày với dáng vẻ tiêu biểu của chúng, trong bản chất nguyên sơ của chúng, thoát khỏi mọi chi tiết không quan trọng, và nhờ đó, tuy được đơn giản hóa, trở nên lớn lao hơn. Một công trình kiến trúc thiếu phong cách khi nó không gợi lên bất cứ cảm xúc nào và không làm thức tỉnh bất cứ tư duy nào. Một bức hoạ, một pho tượng, thiếu phong cách, khi chúng không toát ra bất cứ một linh hồn nào, trong khi dường như mô phỏng tự nhiên một cách sát sao và máy móc. Cũng vậy, một phong cảnh được phục dựng nhờ cái máy mà người ta gọi là chambre claire (camera lucida) sẽ không có bất cứ một phong cách nào hết, không hơn gì một hình ảnh phản chiếu trong gương. Một bức ảnh chụp là thứ bị tước mất phong cách, cho dù đôi khi ngươi ta thừa nhận tác giả có những ưa thích riêng trong cách tạo dáng và chiếu sáng mẫu, trong cách làm rõ hay xóa nhòa các đường viền. Những thứ đó đại loại chỉ là những nhãn hiệu đẹp của sản phẩm mà thôi.

Trường phái Hà Lan thiếu phong cách bởi nó không có vẻ đẹp, nhưng nó nổi bật trong nghệ thuật hạng hai; nó đã thành công bởi tính đặc sắc. Các trường phái của Ý có những phong cách lớn, được hiện thân bởi Leonardo, Michelangelo, Raphael, Titian, Correggio. Chỉ có người Hy Lạp, đạt tới tuyệt đỉnh bởi thiên tài của họ, theo Pericles, dường như có lúc đã đạt được phong cách cao nhất, phong cách tuyệt đối, tới nghệ thuật phi nhân cách, và bằng cách đó đạt tới sự cao siêu, trong đó mọi cá tính cao nhất của cái đẹp tan chảy, thành hợp chất thần thánh của mềm dịu và mạnh mẽ, của đoan trang và nồng nhiệt, của oai vệ và yêu kiều. Wickemann đã nói câu sâu sắc này: “Cái đẹp hoàn hảo cũng giống như nước tinh khiết, không có một vị gì đặc biệt.” Vậy nên, trong các tác phẩm điêu khắc ở đền Parthenon, cá tính của các pho tượng đã được xóa bỏ, biến chúng thành những sáng tạo của chính nghệ thuật hơn là tác phẩm của nghệ sĩ, bởi lẽ Phidias, thay vì thổi vào chúng linh hồn của mình, đã làm chúng sống động bằng linh hồn phổ quát.

Một mảnh phù điêu trán tường (frieze) đền Parthenon được cho là đã được tạc vào khoảng 443 - 438 tr CN dưới sự chỉ đạo của Phidias. Louvre

Một mảnh phù điêu trán tường (frieze) đền Parthenon
được cho là đã được tạc vào khoảng 443 – 438 tr CN dưới sự chỉ đạo của Phidias.
Louvre

Những người, vì tình yêu đối với tự nhiên, tự biện hộ coi lý tưởng như kẻ thù, và muốn cầm tù nghệ sĩ trong sự mô phỏng chính xác, có lẽ hình dung rằng chân lý và cuộc sống thì ở phía này, còn ước lệ và dối trá thì ở phía kia. Đó là một sai lầm lớn. Lý tưởng và hiện thực chỉ có cùng một và duy nhất một bản chất. Viên kim cương thô và viên kim cương đã được mài dũa đều là kim cương; nhưng viên kim cương thô – đó là hiện thực, còn viên kim cương được mài dũa – đó là lý tưởng.

Dịch xong ngày 25.8.2015

__________________

Chú giải của người dịch:

[1] Phaedrus (kh. 15 tr CN – kh. 50) – nhà thơ ngụ ngôn La Mã, đã chuyển thể các truyện ngụ ngôn của Aesop (kh. 620 – 564 tr CN) thành thơ tiếng Latin.

[2] Francis Bacon (1561 – 1625) – triết gia, văn sĩ, luật gia, nhà khoa học, nhà hùng biện, và chính khách người Anh. Ông là cha đẻ của chủ nghĩa kinh nghiệm (empiricism). Ông từng viết: “Nghê thuật là con người được thêm vào tự nhiên.” (Ars est homo, additus naturae.)

[3] Trong cuốn “Lịch sử tự nhiên” (t.k. VII) Pliny cha có kể câu chuyện về hai hoạ sĩ lừng danh thời Hy Lạp cổ đại là Zeuxis và Parrhasius thi tài với nhau. Zeuxis vẽ chùm nho giống thật đến nỗi chim sà xuống mổ vào tranh. Lúc Zeuxis đòi xem tranh cùa Parrhasius, ông này bảo Zeuxis mở tấm vài phủ tranh lên mà xem. Zeusix chạy đến định kéo tấm vải ra thì mới biết đó chính là bức tranh vẽ tấm vải. Zeuxis chịu thua vì chỉ đánh lừa được chim, trong khi Parrhasius đánh lừa được cả Zeuxis.

_____________

© Nguyễn Đình Đăng, 2015 – Người dịch giữ bản quyền bản dịch tiếng Việt. Bạn đọc có thể lưu giữ bản dịch này để sử dụng cho cá nhân mình và chia sẻ miễn phí trên internet. Mọi hình thức sử dụng khác như in ấn, sao chép lại bản dịch này, dù là một phần hay toàn bộ, để phát hành trong các ấn phẩm như sách, báo chí, luận văn, hay nhằm mục đích thương mại (kể cả tại các trang thư viện điện tử trên internet mà để đọc được hay tải xuống người đọc phải trả tiền để mở tài khoản) v.v. đều vi phạm bản quyền nếu không nhận được sự đồng ý bằng văn bản của người dịch.

Phản hồi của bạn:

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: