Yi Mun-yol: Con phượng vàng

Nguyễn Đình Đăng

tóm lược và trích dịch

Dưới đây là tóm lược và trích dịch nội dung truyện ngắn cùng tên (năm 1981) của văn sĩ Hàn quốc Yi Mun-yol (sinh năm 1948), tác phẩm đoạt giải thưởng văn học Don-in năm 1982.

                                                                                                                                                                     N.Đ.Đ.

Yi Mun-yol

Yi Mun-yol

Kojuk là một cậu bé mồ côi cha, mẹ bỏ cậu đi lấy chồng khác. Kojuk ở với chú. Nhưng người chú sau đó phải tị nạn chính trị tại hải ngoại, và gửi Kojuk lại cho bạn mình tên là Sokdam chăm nom.

Sokdam là một sư phụ hội hoạ và thư pháp nổi tiếng, còn Kojuk có tài vẽ và thư pháp bẩm sinh. Kojuk kính trọng tính cách cao thượng và khắc khổ của Sokdam, nhưng không ưa cuộc sống thiếu thốn của ông. Sokdam lại khinh ghét thói thích chạy theo những xu hướng thời thượng và sự yếu đuối của Kojuk trước những cám dỗ đời thường. Những tính cách đó của Kojuk khiến Sokdam không muốn nhận Kojuk làm môn đệ.  Hai người chung sống trong quan hệ vừa yêu vừa ghét, trong khi Kojuk vẫn âm thầm tự luyện thư pháp. Cuối cùng, không thể làm ngơ trước tài năng trời sinh của cậu bé, Sokdam miễn cưỡng nhận Kojuk làm học trò.

Nhưng sự phân cách giữa hai thày trò ngày càng rõ. Trong thư pháp, Sokdam đề cao khí lực, sự thanh cao và tính liêm khiết, còn Kojuk coi trọng cái đẹp thiên về cảm xúc và ý chí. Cả trong hội hoạ quan điểm của họ cũng khác nhau. Sokdam chú trọng thể hiện tinh thần của vạn vật, trong khi Kojuk cố vẽ cho thật giống với tự nhiên.

Sokdam có biệt tài vẽ tre và mơ. Các cây mơ và khóm tre trong tranh của Sokdam thời còn trẻ thường sum suê. Nhưng từ khi Triều Tiên rơi vào tay quân Nhật, tre và mơ trong tranh Sokdam trở nên khô héo, gày guộc và khẳng khiu đến mức mỗi thân tre chỉ có không quá 3 chiếc lá, và mỗi cành mơ trổ không quá 5 đóa hoa.

– Sao tre và mơ của thày xác xơ vùi dập thế? – Kojuk phản ứng.

– Làm sao tre có thể sum suê trên một đất nước mất tự do? Có bậc trí giả nào là dân mất nước mà lại đủ tâm can vẽ nổi một cành mơ đang nở rộ? – Sokdam trả lời

– Trịnh Sở Nam thể hiện nỗi đau khi nhà Tống mất nước bằng cách vẽ hoa cúc bật rễ, trong khi Triệu Mạnh Phủ phụng sự triều đại nhà Nguyên xâm lược quê hương mình. Nhưng ai dám bảo chỉ hoa cúc của Sở Nam mới thanh cao, còn thư hoạ của Mạnh Phủ là hạ tiện? – Kojuk cãi.

– Hội hoạ và thư pháp là những phản chiếu của tâm hồn. Người ta mượn hình dạng các vật để tạo hình cho tinh thần và tâm hồn con người. Không cần phải để cho hình thù bên ngoài chế ngự mình. – Người thày trả lời.

– Nếu hội hoạ và thư pháp chỉ đơn thuần là phương tiện biểu hiện nỗi đau của bậc trí giả, chúng là những thứ vô tích sự và vô giá trị về nghệ thuật! Mài mực và xài giấy suốt đời như vậy chẳng xấu hổ lắm sao? Nếu thực sự yêu quý quê hương, chắc hẳn một ngưởi đàn ông phải trở thành chiến binh, xung trận mà chết trong khi giao tranh với kẻ thù chứ? Ngồi một mình trong thư phòng vẽ những cẳng tre và cành mơ héo tàn xoắn vặn để than thở cho phận mất nước há chẳng phải là tự lừa dối mình và lừa dối thiên hạ sao? – Kojuk bướng bỉnh đeo bám.

– Không phải thế. Con không thể ngăn được bọn hoạ sĩ vỉa hè. Nhưng do tâm hồn nông cạn và tinh thần hạ tiện của họ, các bức hoạ họ vẽ ra đều thuộc hạng rẻ tiền và giá trị không hơn giấy dán tường. Con cố phủ nhận tinh thần trong thư pháp và hội hoạ, nhưng thiếu tinh thần cao thượng, mọi bức hoạ chỉ đơn thuần là mực bôi lên giấy mà thôi. – Sokdam phản bác.

Một lần khác, hai thày trò tranh luận về các nguyên tắc của nghệ thuật.

– Hội hoạ và thư pháp là nghệ thuật, luật lệ, hay đạo (con đường)? – Kojuk hỏi.

– Là đạo, – Sokdam đáp.

– Vậy sao lại nói ‘nghệ thuật thư pháp’ và ‘luật lệ thư pháp’? – Kojuk thách thức.

– Nghệ thuật là hương thơm của Đạo. Luật lệ là y phục của Đạo. Không có Đạo thì không thể có nghệ thuật cũng như luật lệ. – Sokdam nói.

– Người ta chẳng vẫn nói sự tinh luyện nghệ thuật cuối cùng đưa ta tới Đạo hay sao? Nghệ thuật chẳng phải cánh cửa mở lối vào Đạo, chứ không đơn thuần chỉ là hương thơm của Đạo, hay sao? – Kojuk cãi.

– Đó là cái bọn nghệ nhân nói. Tất cả phải luôn luôn nằm trong Đạo, – Sokdam nhấn mạnh.

– Vậy thì việc đầu tiên để học hội hoạ và thư pháp có phải là thanh lọc tâm hồn? – Kojuk hỏi.

– Đúng. Đó là vì sao Vương Hi Chi đã nói: “Không dạy người nào thiếu phẩm cách xứng đáng.” Bây giờ thì con đã hiểu chưa? – Bộ mặt héo hon của Sokdam sáng lên khi ông nói những câu này và ông đưa ánh mắt hy vọng chăm chú nhìn môn đệ. Nhưng Kojuk vẫn quyết không chịu hiểu ông.

– Nếu tâm hồn và tinh thần cao thượng là điều kiện tiên quyết, sao thày lại đi dạy thư pháp cho bọn trẻ con? Nếu tâm hồn và tinh thần cao thượng là điều kiện tiên quyết, liệu bao nhiêu người có thể được coi là xứng đáng cầm bút vẽ trước khi chết? Kojuk phản đối.

– Phải dạy kỹ thuật trong khi đợi Đạo bén rễ. Nếu một người chỉ đơn thuần học cốt để thành thạo kỹ năng, người đó chỉ là nghệ nhân. Nếu người đó tiến lên được giai đoạn tiếp theo, người đó là nghệ sĩ. Nếu cả kỹ thuật lẫn Đạo đều hoàn hảo, người đó trở thành bậc thầy, Sokdam giải thích.

– Vậy có nghĩa nghệ thuật là cơ bản hơn Đạo. Cho nên, loại bỏ sự tinh luyện nghệ thuật để ưu tiên tinh luyện tâm hồn thì có phải cũng tựa như đặt cái cày trước con trâu?

Sokdam cả giận mắng:

– Đồ hạ tiện. Sao mi dám cả gan lấy ngụy biện lấp liếm sự kém cỏi trong việc tu luyện của mi. Uyên bác là đường đưa đến Đạo. Nhưng mi chẳng mảy may để ý tới các chuẩn mực cổ điển cũng như chẳng hề hứng thú với thi ca. Mi chỉ cố tinh luyện cổ tay và ngón tay của mi để mô phỏng các thành quả cuối cùng của các bậc thầy quá khứ. Điều đó có khác gì nghề thủ công tầm thường? Đã vậy mi còn không biết ngượng, dám tự phụ cao giọng phán xét các bậc thầy cổ điển!

*

Kojuk bỏ Sokdam hai lần.

Lần thứ nhất, Kojuk ra đi sau 10 năm tu luyện. Tự lập một mình, chàng nhanh chóng nổi lên như một nghệ sĩ thư pháp đương đại, với phong cách tân kỳ được đám đông mến mộ, danh tiếng chẳng mấy chốc lan khắp cả nước.
Tuy nhiên, một ngày ngồi một mình, Kojuk bỗng cảm thấy cô đơn khi hiểu rằng phần lớn tuổi trẻ của chàng đã chẳng đi tới đâu và rằng mọi cố gắng chàng dồn vào nghệ thuật đã hoàn toàn vô ích. Chàng quyết định quay về với thày cũ.

Trong khi dạy Kojuk, Sokdam luôn nhắc đi nhắc lại:

 Nếu một nghệ sĩ thư pháp nhìn thấy con phượng vàng cất cánh bay lên từ những tác phẩm của mình, dù chỉ một lần trong đời, thì có nghĩa cuộc đời y chắc chắn đã đạt ‘tới nơi đó’.

Song Kojuk không hiểu gì hết. Chàng cãi:

– Cứ cho là thày có thể phóng một nét bút và nhìn thấy phượng vàng thăng thiên từ tác phẩm của thày, thì phỏng có ích gì?

Nói xong, chàng nhếch mép cười mỉa mai.

Người thày trả lời:

– Đó là trạng thái cao siêu đích thực mà mọi nghệ sĩ thư pháp đều mong muốn trải nghiệm, cho dù chỉ một lần trong đời.

Tuy nhiên, Kojuk vẫn ngoan cố:

– Giả sử đạt được điều đó, liệu nó đem lại lợi ích gì?

– Con còn chưa trèo núi Thái Sơn, mà đã vội lo khi tới đỉnh thì không còn đỉnh nào cao hơn nữa. Hay con cho rằng những bậc trí giả – những người được mọi thế hệ tôn kính vì những thành quả cao thượng của họ – chỉ phung phí thời gian của mình chăng?

– Họ tự lừa dối mình và lừa dối người khác. Nếu có Đạo trong hành động bôi mực lên giấy, thì Đạo đó là cái quái quỷ gì? Nếu đó là một điều bí ẩn khó hiểu thì nó tuyệt vời chỗ nào? Nếu thày nói về Đạo, một gã đồ tể hay một tên kẻ cắp cũng có Đạo. Nếu thày nói đến sự phức tạp của ý nghĩa, sản phẩm của một thợ thủ công hay thợ rèn cũng có những bí ẩn khó hiểu. Giả sử danh của một người được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trong khi cái ‘Tôi’ không còn tồn tại nữa, điều đó phỏng có ích gì? Các tác phẩm có thể được bảo tồn, nhưng cả chữ khắc trên đá cũng phai mờ vì mưa gió huống hồ mực và giấy. Rốt cuộc, khi họ còn sống, những thứ đó chẳng mang lại tiện nghi gì cho thể xác của họ, chẳng giúp gì cho những người hàng xóm trần trụi và đói khát của họ. Thế là để che giấu sự vô ích đó, nỗi đau khổ đó, họ tạo dựng ra một trạng thái không ai có thể đạt được hay chứng tỏ được, để tự an ủi mình và bỏ bùa những hàng xóm cùng con cháu họ, – Kojuk gân cổ cãi.

Nhưng đúng lúc đó đầu chàng đau nhói vì bị một cú đập mạnh đau xô chàng ngã lăn ra: Sư phụ Sokdam đã ném cả cái nắp đậy nghiên mực bằng đá vào đầu chàng. Chàng đưa tay ôm đầu bịt máu chảy tuôn ra, bên tai còn văng vẳng tiếng quát giận dữ của thày:

– Đồ đê tiện, ta lại thấy sự thô bỉ xưa kia của mi. Xéo ngay. Đáng ra mi phải ngồi trên hè phố từ đầu mới đúng. Mi đã khôn khéo che giấu sự thô bỉ của mi, nhưng hôm nay nó đã lộ ra. Nếu mi ra phố bây giờ, mi sẽ được bố thí những xuất cơm hào phóng cho mỗi chữ mi viết ra đó.

Một lần nữa Kojuk bỏ Sokdam ra đi, thề không bao giờ quay lại.

*

Sau 10 năm mệt mỏi vì cuộc sống phóng đãng trong tiền bạc và tăm tiếng, Kojuk lại muốn gặp lại thày cũ. Song lần này, trước khi đến nhà thày, Kojuk tới một một ngôi đền trên núi cao để cầu nguyện và tẩy rửa tâm hồn khỏi những ô uế của cuộc đời.

Tại đây Kojuk nhìn thấy một bức bích họa cổ đã phai màu vẽ một con phượng có đôi cánh vàng kim, đầu như chim ưng, và thân như người từ cổ trở xuống. Rồi chàng thấy con chim như sống lại và bay lên cao. Chàng bỗng ngộ ra hàm ý của thày khi nói về con phượng vàng. Chàng khao khát được nhìn thấy con phượng vàng bay lên từ các bức thư hoạ của mình.

Kojuk tới nhà thày nhưng đã quá muộn. Sư phụ chàng vừa qua đời. Ngôi nhà vốn yên tĩnh và cô đơn, nay đầy thân hữu và học trò tới viếng. Lạ thay không ai nồng nhiệt chào đón Kojuk, trừ một người lạnh lùng nói với chàng:

– Cậu viết băng tang trên quan tài đi. Sư phụ muốn vậy. Đừng viết các danh hiệu và các giải thưởng của sư phụ, mà chỉ viết: ‘Xe tang thày Kim Sokdam‘.

Nước mắt chảy dài trên má, người học trò này nói thêm:

– Cậu có hiểu điều đó có nghĩa gì không? Sư phụ muốn đem theo thư pháp của cậu xuống Suối Vàng. Thày rất mê thư pháp của cậu, đồ ngu ạ.

Mọi nỗi oán hờn và cay đắng của Kojuk với thày đột nhiên tan biến. Kojuk khao khát muốn nhìn mặt thày lần cuối nhưng nắp quan tài đã bị đinh đóng chặt.

*

Kojuk mở trường dạy hội hoạ và thư pháp. Ở tuổi 70 Kojuk được nhiều nhà buôn nghệ phẩm đặt hàng, trả giá rất cao. Song khi mở toàn bộ sưu tập của mình ra xem lại, Kojuk không thấy một bức nào khiến ông thỏa mãn. Kojuk hiểu rằng nghệ thuật của mình còn xa mới đạt tới sự hoàn hảo. Ông ước ao được thấy con phượng vàng như đã từng thấy tại ngôi chùa trên núi năm xưa. Trong tâm trí Kojuk con phượng bay tới từ người thày, biểu tượng của đức hạnh và tính cách cao siêu. Nó tượng trưng cho sự hoàn hảo trong nghệ thuật.

Kojuk ra lệnh cho học trò đốt toàn bộ sưu tập các tác phẩm của ông. Lửa bốc cao trong lúc các học trò ôm mặt khóc. Họ tưởng như nhìn thấy toàn bộ cuộc đời Kojuk, chân lý của ông đang bị thiêu ra tro. Số khác lại thấy như nhìn một đống tiền đang bị đốt. Toàn bộ tác phẩm, trong đó có những bức không dưới hai đời tổng thống đều có tham vọng muốn sở hữu, của bậc thày lừng danh, người từng từ chối làm giám khảo của triển lãm quốc gia, đang bị thiêu hủy.

Đúng lúc đó Kojuk đột nhiên trông thấy một con phượng vàng khổng lồ bay lên từ đống lửa, với một vẻ đẹp kinh ngạc và khí lực mãnh liệt.

Đêm ấy Kojuk trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 72.

Thẻ: , , , , , ,

Phản hồi của bạn:

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: