“Tôi phải vẽ.”

04/12/2014

Giới thiệu của người dịch:

Charles Strickland là một người đàn ông trung niên làm nghề môi giới chứng khoán ở London, có vợ con, đùng một cái bỏ nhà đi Paris. Nghi ông bỏ nhà theo gái, vợ ông đã phái một người bạn trẻ sang Paris điều tra. Dưới đây là phần cuối cuộc đối thoại giữa người bạn trẻ đó với Charles Strickland tại một quán cà-phê trên hè Đại lộ Clichy ở Paris. Theo tôi, đây là một trong những đoạn hay nhất từ tiểu thuyết “Mặt trăng và đồng sáu xu” (The moon and sixpence) của đại văn hào William Somerset Maugham viết về nguyên mẫu Paul Gauguin trong đời thực.

Nguyễn Đình Đăng

*

Đối với tôi điều lý thú nhất trong nghệ thuật

là nhân cách của nghệ sỹ;

và nếu nhân cách đó xuất chúng,

tôi sẵn lòng tha thứ cả ngàn lỗi lầm.”

W. Somerset Maugham (1874 – 1965)

 

Chương XII, trang 49 – 52:

Tôi cười.

- Thôi đi ông ơi, ông không nghĩ chúng tôi ngu đến thế chứ. Chúng tôi được biết ông bỏ nhà đi theo một người đàn bà.

Ông bật cười rồi bỗng dưng phá lên cười. Ông cười to đến nỗi mấy người ngồi gần chúng tôi đảo mắt nhìn quanh, sau đó có người trong bọn họ cũng bắt đầu cười theo.

- Tôi không thấy có gì thật buồn cười ở đây.
– Amy đáng thương.

Rồi mặt ông lộ rõ vẻ khinh bỉ tột độ.

- Tư duy đàn bà thật tầm thường! Tình. Lúc nào cũng là tình. Họ cho rằng người đàn ông bỏ đi chỉ vì hắn muốn những người đàn bà khác. Cậu có nghĩ tôi ngu đến mức phải làm cái mà tôi đã từng làm với một người đàn bà không?
– Ý ông muốn nói ông không bỏ vợ ông để chạy theo một người đàn bà khác?
– Tất nhiên là không.
– Lời nói danh dự đó chứ?

Tôi không hiểu tại sao tôi lại hỏi thế. Nhưng câu hỏi của tôi rất chân thật.

- Thề danh dự.
– Vậy, Chúa đã xui ông bỏ bà vì cái gì vậy?
– Tôi muốn vẽ.

Tôi nhìn ông ta hồi lâu. Tôi không hiểu. Phải nhớ rằng tôi rất trẻ và nhìn ông như một người trung niên. Tôi quên mọi thứ ngoài sự sửng sốt của chính mình.

- Nhưng ông bốn mươi rồi.
– Điều đó khiến tôi nghĩ rằng đã rất đến lúc phải bắt đầu.
– Ông đã từng vẽ bao giờ chưa?
– Tôi từng muốn trở thành hoạ sĩ khi còn là một đứa trẻ, nhưng bố tôi đã bắt tôi phải học kinh doanh vì ông ấy nói làm nghệ thuật không ra tiền. Tôi bắt đầu vẽ khoảng một năm trước. Năm ngoái tôi có đi học vài lớp vẽ buổi tối.
– Có phải đó là khi bà Strickland cho rằng ông đi đánh bài ở câu lạc bộ không?
– Chính thế.
– Tại sao ông không nói cho bà ấy biết?
– Tôi thích giữ kín chuyện đó cho mình hơn.
– Ông có vẽ được không?
– Chưa. Nhưng tôi sẽ vẽ được. Đó là vì sao tôi tới đây. Tôi đã không thể có được cái tôi muốn khi ở London. Có lẽ ở đây tôi sẽ có thể có được.
– Ông có cho rằng một người chắc sẽ có thể làm nên chuyện ở tuổi của ông không? Hầu hết người ta bắt đầu vẽ lúc 18 tuổi.
– Tôi có thể học nhanh hơn khi tôi 18.
– Cái gì làm ông nghĩ rằng ông có một tài năng nào đó?

Ông không trả lời trong khoảng một phút. Ông nhìn trân trân vào đám đông đang đi qua, nhưng tôi không cho rằng ông nhìn thấy họ.

- Tôi phải vẽ.
– Ông không liều đấy chứ?

Ông nhìn tôi. Trong mắt ông có gì đó xa lạ, khiến tôi cảm thấy hơi khó chịu.
– Cậu bao nhiêu tuổi? Hai mươi ba?

Tôi thấy dường như câu hỏi hơi lạc đề. Tôi phải thử các vận may là lẽ tự nhiên; nhưng ông ta là người đàn ông đã quá tuổi thanh xuân, một người môi giới chứng khoán khả kính, có vợ và hai con. Tất nhiên lẽ tự nhiên đối với tôi lại là lố bịch đối với ông. Tôi muốn mình rất công bằng ở đây.

- Dĩ nhiên, phép lạ có thể xảy ra, và ông có thể thành một hoạ sĩ lớn, nhưng ông phải thú nhận rằng xác xuất của điều này là một phần nghìn. Sẽ là một sự đánh đổi tệ hại nếu cuối cùng ông phải nhận ông đã làm hỏng mọi việc.
– Tôi phải vẽ, – ông nhắc lại.
– Giả sử ông không bao giờ nhích lên trên tầm một hoạ sĩ hạng ba, ông có cho rằng đáng để bỏ tất cả vì cái đó hay không? Cuối cùng, trong bất kỳ con đường nào khác của cuộc đời nếu ông không rất giỏi thì cũng chẳng quan trọng; ông sẽ vẫn rất thoải mái nếu ông chỉ ở cỡ tầm tầm vừa đủ; nhưng với một nghệ sĩ thì khác.
– Cậu nói ngu thế, – ông ta nói.
– Tôi không hiếu tại sao lại ngu, trừ khi ngu là nói ra những gì hiển nhiên.
– Tôi nói với cậu rằng tôi phải vẽ. Tôi không biết làm cách nào khác. Khi một người ngã xuống nước, hắn bơi như thế nào, giỏi hay kém, chẳng quan trọng; hắn phải ngoi lên để khỏi chết đuối.

Một niềm say sưa thực sự toát lên trong giọng nói của ông, và cả tôi cũng thấy ấn tượng. Tôi dường như thấy trong ông một sức mạnh ghê gớm đang tranh giành với ông; nó gây cho tôi cảm giác về một cái gì đó rất khỏe đang chế ngự ông như thể chống lại ý chí của ông. Tôi không hiểu. Ông có vẻ như đã thực sự bị quỷ ám và tôi cảm thấy nó có thể quấn chặt và xé nát ông. Nhưng ông trông vẫn khá bình thường. Đôi mắt tôi đang tò mò nhìn ông không không hề làm ông bối rối. Tôi tự nghĩ ông thật là một con người kỳ dị, ngồi tại đây mặc chiếc áo vét kiểu Norfolk cũ kỹ, đội cái mũ phớt không được chải; quần ông rộng lùng thùng, tay ông bẩn thỉu; và bộ mặt ông với đám râu hung đỏ mọc lởm chởm trên cái cằm chưa được cạo, đôi mắt lé, và cái mũi to hung hăng, trông thật hoang dã và lỗ mãng. Miệng ông rộng, cặp môi nặng, đầy nhục dục. Không, tôi đã không thể đánh giá được ông.

- Ông sẽ không quay về với vợ ông chứ? – tôi hỏi lần cuối cùng.
– Không bao giờ.
– Bà ấy sẵn lòng quên mọi chuyện đã xảy ra và bắt đầu lại. Bà ấy sẽ không bao giờ trách cứ ông.
– Mặc xác bà ta.
– Ông không sợ người ta coi ông là một gã thậm đê tiện ư? Ông không sợ vợ và các con ông phải đi ăn xin ư?
– Tôi đếch cần.

Tôi nín lặng một lúc để dồn sức cho chỉ trích tiếp theo. Tôi nói một cách thận trọng nhất có thể:

- Ông là một tên vô lại đã hết thuốc chữa.
– Bây giờ, sau khi cậu đã trút được mọi bức xúc, ta đi ăn tối thôi.

Paul Gauguin Les Misérables (Tự họa năm 40 tuổi với chân dung của Émile Bernard)

Paul Gauguin
Les Misérables (Tự họa năm 40 tuổi với chân dung của Émile Bernard)

Dịch xong ngày 4.12.2014


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 397 other followers