So sánh vài dòng sơn dầu

02/02/2016

Nguyễn Đình Đăng

Classic (Old Holland) và GUILD (Kusakabe)

Old Holland (OH) xác nhận hàm lượng dầu khô trong các màu OH Classic Cremnitz white, Vermilion extra, Cadmium red medium (Vermilioned), Cerulean blue, và Cobalt blue deep là là 18% – 25% . Như vậy có nghĩa OH Classic là màu thượng hạng vì hàm lượng pigment trong các màu đắt tiền nói trên rất cao (75% – 82%). Đó là lý do vì sao OH Classic có giá cao nhất châu Âu.

OH Classic và GUILD của Kusakabe có giá gần như nhau (20 ml):

12604807_1663135110612049_5210041997248500677_o

Bảng 1 – Giá một số màu sơn dầu Old Holland Classic, Kusakabe GUILD và Holbein Vernét (20 ml)

OH Classic có 168 màu, GUILD có 12 màu. Cả hai đều dùng dầu lanh.

12644941_1661800870745473_7029153260108875992_n

Old Holland Classic

12592469_1661801134078780_4871615923034396163_n

Kusakabe GUILD

Dĩ nhiên không phải tất cả các màu của OH Classic đều có hàm lượng pigment cao. Bảng tốc độ khô và hàm lượng dầu trong sơn dầu OH Classic tại http://www.oldholland.com/products/…  có ghi hàm lượng dầu khô trong từng màu ở cột ngoài cùng bên phải, gồm cao (H tức high), trung bình (M: medium), thấp (L: low) và rất thấp (VL: very low). Theo đó, các màu trong (transparent) và các pigment hút dầu mạnh (như umber) hay độ nhuộm cao (như lam Phổ) thường có hàm lượng dầu khô cao.
Tôi có hỏi OH và được hãng cho biết đối với dòng Classic thì H= 36% – 55%, M = 26% – 35%, L = 21% – 25 % và VL =17% – 20%.

Vernét (Holbein) và GUILD (Kusakabe)

12593507_1661799234078970_9155082410070352863_o

Holbein Vernét

1 – Vernét có kích thước pigment nhỏ bằng nửa pigment của GUILD, vì thế Vernét mịn và trong hơn. Theo quảng cáo của Holbein “sơn dầu Vernét được chế tạo bằng công nghệ tiên tiến nhất, đánh dấu một kỷ nguyên mới của màu sơn dầu”.

2 – Vernét được để ngấu từ 1 tới 3 tháng, GUILD được để ngấu 18 tháng.

3 – Hàm lượng trung bình của pigment trong màu Vernét là 60%, extender là 8%. Trong màu artist grade thông thường các con số này là khoảng 40% – 45% pigment và khoảng 25% phụ gia (extender).

4 – Vernét có 40 màu, GUILD có 12 màu.

5 – Giá Vernét bằng 40% – 60% giá GUILD, trừ màu đen ngà voi (ivory black) của Vernét là từ ngà voi thứ thiệt (1,059 yen/20 ml), của GUILD là từ xương ngựa (908 yen/20 ml) (Xem bảng 1).

6 – Những màu sau đây của Vernet không chứa drier (chất làm khô nhanh):
Terre Verte, Viridian, Cobalt Blue, Prussian Blue, Raw Sienna, Raw Umber, Burnt Sienna, Burnt Umber, Silver White (Linseed), Silver White (Poppy), và Titanium White.
Những màu còn lại chứa từ 1% tới 2% drier (Naphthenate or Octoate of Cobalt, Manganese or Zirconium).

7 – Vermilion của Vernét có độ chịu sáng thấp, còn vermilion của GUILD (đỏ Breughel) được Kusakabe đánh giá là rất bền.

8 – Vernét cũng dùng dầu lanh như GUILD. Riêng đối với trắng chì (silver white), Vernét có 2 loại: nghiền với dầu lanh (Linseed) và nghiền với dầu hạt thuốc phiện (Poppy). GUILD không có màu trắng. Màu trắng tốt nhất do Kusakabe sản xuất là MINO silver white.

Dưới đây là hàm lượng pigment trong một số màu Vernét và GUILD:

12622447_1663139577278269_1841906891727282450_o

Bảng 2 – Hàm lượng pigment của một số màu thượng hạng Vernét và GUILD

Tính minh bạch của các hãng sơn dầu

Tất cả 3 hãng sơn dầu của Nhật Bản là Holbein, Kusakabe và Matsuda đều công khai hàm lượng pigment, dầu khô, và phụ gia trong các dòng sơn dầu của mình. Kusakabe công bố trên internet các con số này cho dòng GUILD. Thông tin cụ thể về các dòng màu khác đều được các hãng trả lời khi khách hàng yêu cầu qua email hoặc điện thoại.

Ngoài các thông tin đã dẫn, dưới đây là một ví dụ khác về hàm lượng pigment trong 3 dòng sơn dầu của Kusakabe (do bản hãng cung cấp qua email):

12525132_1663144023944491_6965080342144818394_o

Bảng 3 – Hàm lượng pigment trong sơn dầu Standard, Artists’ và Mino của Kusakabe. Hàm lượng pigment cao trong các màu đục, thấp hơn trong các màu bán đục (bán trong), thấp trong các màu trong hoặc hút dầu mạnh (như burnt umber).

Trong các hãng châu Âu và Mỹ tôi từng hỏi, chỉ có Old Holland (Hà Lan) cho biết thông tin này như đã nói ở trên. Còn Royal Talens (Hà Lan), Winsor & Newton (Anh), Blockx (Bỉ) và Gamblin (Mỹ) nói đó là sở hữu của hãng, không tiết lộ cho khách hàng. Lefranc & Bourgeois (Pháp) và Michael Harding (Anh) đến nay chưa hồi âm.

Ít nhất Âu-Mỹ cũng có một hãng sơn dầu là Old Holland minh bạch không thua các hãng của Nhật.

Tiện đây nói luôn, Gamblin oil colors có hai dòng:

Artists Grade Oil Colors (hạng cho hoạ sĩ)

1980 Oil Colors (hạng cho sinh viên)

Dòng 1980 Oil Colors dùng bột đá vôi (phấn) làm phụ gia, và trộn các pigment rẻ tiền vào pigment đắt tiền, như PR112, PR188 vào đỏ cadmium, PY3, PY74 vào vàng cadmium, PB15:2 vào lam cobalt để giảm giá thành, song Gamblin không cho biết hàm lượng. Theo Color of Art Pigment Database, đỏ napthol (PR112, PR188) phai và đổi màu thành sẫm xỉn theo thời gian. Vàng Hansa (PY3) có màu vàng chanh sáng ngả lục, độ chịu sáng kém, theo thời gian ngả thành màu nâu. Vàng aryline (PY74) có độ chịu sáng hạng II (I là hạng nhất, IV là hạng bét). Lam phthalocyanine (PB15:2) có độ nhuộm rất lớn, màu lam sẫm khi đậm đặc, màu lam sáng ngả đỏ hoặc lục khi quệt lớp mỏng.

12646833_1663298317262395_692159779916288689_o

Phụ gia (extender) bằng bột đá vôi (calcium carbonate) của Kusakabe để trộn với pigment (trái) và của Rublev Colours để vẽ impasto (phải)

So sánh giá

Vì chất lượng của sơn dầu chủ yếu phụ thuộc chất lượng pigment nên sơn dầu càng nhiều pigment xịn thì chất lượng càng cao và dĩ nhiên giá càng đắt. Ngoài ra, giá thành còn phụ thuộc công nghệ sản xuất.

Ví dụ dưới đây so sánh giá (quy ra yen / 20 ml) cho màu đỏ cadmium (PR106), thuộc hàng pigment đắt nhất, của vài dòng sơn dầu.

1) Artist grade:

GUILD (Kusakabe): 3,024
Classic (Old Holland): 2,620
Michael Harding: 2,080
Lefranc (Lefranc & Bourgeois): 1,890
Matsuda Super: 1,437
Daler – Rowney Artists’ : 1,432
Mino (Kusakabe): 1,399
Vernét (Holbein): 1,361
Gamblin Artist’s: 1,163
Matsuda M: 983
Rembrandt (Royal Talens): 908
Holbein Artists’: 756
Winsor & Newton Artists’: 756
Lukas 1842: 748
Kusakabe Artists’: 741

2) Student grade:

Sekaido: 636 (*)
Van Gogh (Royal Talens): 507
Gamblin 1980: 387
Lukas Studio: 218 (pigment mô phỏng)
Georgian (Daler – Rowney): 213

(*) Sekaido là hoạ phẩm do hãng Matsuda sản xuất theo thỏa thuận với hãng bán họa phẩm Sekaido và được dán nhãn hiệu Sekaido.

So sánh hàm lượng pigment

Giả thiết chất lượng pigment PR108 (đỏ cadmium) trong các dòng artist grade và student grade là như nhau và giá thành tỉ lệ thuận với hàm lượng pigment, từ hàm lượng pigment đỏ cadmium trong màu Vernét là 80% và giá 1,361 yen có thể dễ dàng tính ra hàm lượng C của pigment này trong dòng màu khác, nếu biết giá P của nó, theo công thức sau:

C = P x 80/1,361 %  =P x 0.06 %

Dưới đây là hàm lượng PR108 trong đỏ cadmium của vài dòng sơn dầu tính theo công thức trên:

Artist grade:

Gamblin Artist’s: 70%
Matsuda M: 59%
Rembrandt: 55%
Holbein Artists’: 45.4%
Winsor & Newton Artists’: 45.4%
Lukas 1842: 45%
Kusakabe Artists’: 44.5%

Student grade:

Sekaido: 38.2%
Van Gogh: 30.4%
Gamblin 1980: 23%
Georgian: 13%

Mặc dù gần đúng, kết quả này cho thấy màu hạng sinh viên có hàm lượng pigment rất thấp. Điều đó có nghĩa là pha trộn một màu hạng sinh viên với một màu hạng hoạ sĩ sẽ phải tốn nhiều màu hạng sinh viên hơn để có được màu cùng cường độ với pha trộn hai màu hạng hoạ sĩ. Hơn nữa, do màu hạng sinh viên có độn nhiều phụ gia, pha trộn màu hạng sinh viên không bao giờ cho màu đúng như pha trộn màu hạng hoạ sĩ. Đó là chưa kể hàm lượng phụ gia càng cao thì các phẩm chất của màu như độ rực rỡ, độ bền màu, độ chịu sáng, v.v. càng giảm sút.

Màu hạng hoạ sĩ cũng cần phụ gia để tăng độ linh hoạt, kết cấu bề mặt của màng phim. Nhưng nếu hàm lượng phụ gia vượt ngưỡng (~25%) càng nhiều thì màu càng xỉn và càng chóng phai. Ví dụ, nếu hàm lượng PR108 (đỏ cadmium) chỉ khoảng 13% và dầu khô khoảng 20% (vì đỏ cadmium là màu đục), thì có nghĩa là phụ gia chiếm 67% tube màu, vượt ngưỡng gần gấp 3 lần!

Vài chi tiết phụ

Trong các dòng màu artist grade kể trên, Vernét (Holbein) có design tube màu đẹp nhất.
Hãng Kusakabe cho biết họ đặt một hãng khác tại Fukushima sản xuất tube đựng màu. Vì tube rỗng rất dễ bẹp nên hãng Kusakabe không thuê các hãng vận chuyển mà tự mình làm việc này, tức đánh xe đi Fukushima, cách Asaka nơi Kusakabe toạ lạc 280 km, để vận chuyển các tube rỗng về Asaka.

12633679_1661818957410331_8737970453904835228_o

Các tube rỗng (chờ được bơm màu) của Kusakabe (Chụp từ trên xuống)

______________

Các bài trong series về màu sơn dầu:

  1. Dùng sơn dầu nhãn hiệu nào?
  2. Màu sơn dầu
  3. Mơ và tỉnh
  4. Vẽ láng
  5. Đỏ thần sa
  6. Màu hạng sinh viên và hạng hoạ sĩ
  7. Trao đổi về lịch sử mỹ thuật và hoạ phẩm
  8. So sánh vài dòng sơn dầu

___________

© Nguyễn Đình Đăng, 2016 – Tác giả giữ bản quyền bản quyền. Bạn đọc có thể lưu giữ các bài viết của Nguyễn Đình Đăng để sử dụng cho cá nhân mình, chia sẻ nguyên văn và miễn phí trên internet. Mọi hình thức sử dụng khác như in ấn, sao chép, hiệu đính lại các bài viết này, dù là một phần hay toàn bộ, để phát hành trong các ấn phẩm như sách, báo chí, luận văn, giáo trình, hay nhằm mục đích thương mại (kể cả tại các trang blog, thư viện điện tử trên internet mà để đọc được hay tải xuống người đọc phải trả tiền để mở tài khoản) v.v. đều vi phạm bản quyền nếu không nhận được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 594 other followers