Slides thuyết trình tại ĐHMT Việt Nam sáng 23.05.2016

27/05/2016

Slide01

Trước hết tôi cảm ơn Đại học Mỹ thuật Việt Nam và Ban Mỹ thuật Hiện đại đã có nhã ý mời tôi nói chuyện tại đây hôm nay. Đây là lần thứ ba tôi thuyết trình tại ĐHMT VN.

Lý do tôi chọn chủ đề trên trong thuyết trình lần này là như sau.

Sau buổi thuyết trình đầu tiên tại đây lần năm 2009, tôi đã viết lại nội dung thuyết trình thành chuyên khảo nhan đề “Sơ lược về kỹ thuật vẽ sơn dầu” và phổ biến miễn phí trên internet. Nhiều độc giả cho biết chuyên khảo này đã rất có ích cho họ. Sau buổi nói chuyện lần thứ hai nhan đề “50 bí quyết vẽ sơn dầu và 10 điều tự răn” vào năm 2011 cũng tại quý trường, tôi đã viết 25 bài đi sâu từng khía cạnh trong chuyên khảo nói trên. Loạt chuyên khảo này tôi cũng đã đăng trên internet thành một series nhan đề “Kỹ thuật vẽ sơn dầu” để tất cả những ai quan tâm đều có thể dễ dàng đọc được, tất nhiên cũng miễn phí.

 

Slide02

Vì thế tôi nghĩ, nay đã đến lúc các hoạ sĩ và sinh viên hội hoạ sơn dầu ở Việt Nam cần thấy được sự khác nhau về lượng cũng như về chất giữa màu cho hoạ sĩ và màu cho sinh viên.

Trong cuộc gặp với nhóm Hiện thực ngày hôm qua tại Hanoi Creative City, tôi chỉ tập trung làm một số demo để các hoạ sĩ nhóm này thấy được sự khác nhau nói trên. Hôm nay tôi hy vọng sẽ đi sâu hơn về lý thuyết trước phần demo minh hoạ.

Tôi cảm ơn bà Minako Ogawa, trưởng phòng công nghệ của hãng hoạ phẩm Kusakabe, một trong 3 hãng hoạ phẩm có tiếng của Nhật Bản, sau khi nghe tin tôi sẽ về Hà Nội nói chuyện, đã gửi tôi 4 tube màu thuộc các hạng khác nhau của bản hãng để tôi dùng làm demo trong hai cuộc nói chuyện hôm qua và hôm nay. Tôi cũng cảm ơn bạn Nguyễn Văn Linh, để giúp tôi demo trong hai buổi nói chuyện này, đã bay từ Pleiku ra, đem theo một số hoạ phẩm hạng hoạ sĩ của hãng Holbein mà bạn đã tự đặt mua từ Tokyo.
Tôi cũng muốn đề tặng buối nói chuyện này cho ông Lucien Forget, một người Pháp từng sống tại Việt Nam hơn 20 năm, rất yêu nghệ thuật, đã sưu tầm nhiều tranh tượng của các hoạ sĩ Việt Nam, trong đó có bức “Giấc mơ nghệ sĩ – Chân dung nhà văn Nguyễn Huy Thiệp” của tôi, mà ông đã mua vào năm 2014.

Slide04

Được biết tôi sẽ về Hà Nội lần này, ông Forget đã ngỏ lời mời chúng tôi ghé thăm gia đình ông. Cuộc hội ngộ này tiếc thay đã không diễn ra. Ông Lucien Forget đã đột ngột qua đời 10 ngày trước sau một cơn đau tim, thọ 66 tuổi, để lại người vợ trẻ và cô con gái cùng một sưu tập trên 100 bức tranh, tượng, và đồ vật nghệ thuật của các tác giả Việt Nam. Hiện nay gia đình ông Forget sẵn sàng nhượng lại sưu tập trên cho các nhà sưu tập trong và ngoài nước. Đây là một sưu tập đặc biệt vì nó được lựa chọn bởi một người Pháp rất say mê văn học, nghệ thuật nói chung và Việt Nam nói riêng.

Trong hình là bức “Giấc mơ nghệ sĩ – Chân dung nhà văn Nguyễn Huy Thiệp” (97 x 130 cm) tôi vẽ năm 1990, hiện treo trên tường nhà ông Lucien Forget. Khung tranh được ông Lucien Forget đặt một nghệ nhân Việt Nam làm.

13268185_1711979005727659_7943916647570661181_o

Trước tiên chúng ta nên biết tất cả các loại màu vẽ đều có 2 thành phần chính là bột màu và chất kết dính.

Cùng một loại bột màu nhưng trộn với các chất kết dính khác nhau sẽ cho ta các loại màu vẽ khác nhau.

*) Alkyd là nhựa tổng hợp (polyester) có pha thêm các acid béo và một số chất khác. Sơn alkyd chứa khoảng 10 – 30% nhựa alkyd – chất kết dính của sơn alkyd. Phần còn lại là dầu tạo màng, như dầu lanh hoặc dầu đỗ tương, và bột màu (pigments). Sơn alkyd khô nhanh hơn sơn dầu, hơn 1 ngày nếu không có chất làm khô (drier hay siccative) nhưng chậm hơn acrylic.

Slide06

Slide07

Slide08

Màu đỏ son (son trai, son tươi, son thắm, son nhì) của sơn mài cũng được chế từ bột màu (pigment) thần sa (辰砂, cinnabar hay sulfide thủy ngân HgS), còn được gọi là vermilion (pigment red 106 hay PR106). Đó chính là pigment làm nên màu đỏ đẹp nhất trong lịch sử hội họa, được dùng rộng rãi trong nhiều chất liệu như màu gốc nước vẽ bích hoạ, tempera, sơn dầu, chứ không chỉ riêng trong lacquer của Trung Hoa, Nhật Bản hay sơn mài của Việt Nam.

“Cinnabar” (thần sa) trong tiếng Ba Tư có nghĩa là “máu rồng”. Đá thần sa được cho là có thần lực vì được sinh ra từ núi lửa. Nhiệt năng tạo nên đá thần sa sinh ra từ trong lòng đất. Màu đỏ của thần sa vừa thắm như máu, tượng trưng cho sự sống, vừa chói lọi như lửa, tượng trưng cho hủy diệt. Vì thế đỏ thần sa là sự hòa hợp của cả sinh lẫn hủy, cả dương lẫn âm. Nó được gán cho ma lực tạo ra những vận may và xua tan mọi rủi ro.

Slide09

Trong chương IX cuốn VII của “Mười cuốn sách về kiến trúc” [2] viết từ t.k. I tr CN, Vitruvius đã cảnh báo rằng vermilion có thể đổi màu khi bị phơi ngoài trời. Ông khuyên, nếu không tránh được việc phải dùng vermilion vẽ bích họa trên tường ngoài trời, cần láng bức tranh bằng sáp Pontic trộn với dầu, sau đó hơ nóng cho sáp dàn đều và nhẵn, để khô, rồi dùng sáp nến đánh bóng.

13254791_1711489792443247_8123225234426833755_o

Giả thuyết cho rằng sulphide thủy ngân dạng alpha (α-HgS, cinnabar) chuyển hóa thành dạng beta (β-HgS, metacinnabar) có màu đen, vì thế vermilion ngả đen, nay đã bị loại bỏ. Lý do là vì người ta đã không tìm ra dấu tích của sulfide thủy ngân dạng beta trong các mảng có vermilion bị ngả đen trên các bức hoạ cổ, ví dụ các bích hoạ được vẽ từ t.k. VI- IV tr CN ở Pompeii. Gần đây nhất, trong một công trình đăng tại tạp chí Physical Review Letters tháng 11. 2013, các nhà khoa châu Âu đã tìm ra một cơ chế biến sulfide thủy ngân, dưới tác động của ánh sáng trong môi trường chứa các ion chlor (chloride ions), thành chất corderoite Hg3S2Cl2. Chất này chịu phản ứng hóa học, sản sinh ra thủy ngân nguyên chất có màu đen.

Để chứng minh đây là quá trình thực sự đã xảy ra với vermilion trên các bức hoạ, người ta còn phải tìm ra sự hiện diện của thủy ngân kim loại trong các lớp màu vermilion bị ngả đen đó. Đây là việc không đơn giản vì phương pháp tán xạ X quang dùng để chiếu các bức tranh chỉ hiệu nghiệm với các chất rắn trong khi thủy ngân kim loại là chất lỏng tại nhiệt độ trong phòng.

Slide10

Slide11

Nghiên cứu của London National Gallery phát hiện dầu lanh đặc được dùng thường xuyên trong tranh của Van Eyck, Vermeer, Rembrandt.

Ví dụ trong bức chân dung Margaret – vợ Van Eyck. Áo đỏ được vẽ bằng một lớp vermilion sau đó được láng bằng 3 lớp lake đỏ từ phầm yên chi (rệp son) và hồng thiên thảo. Van Eyck dùng màu đen và ultramarine để vẽ bóng tối.

Slide12

Slide13

Trên: thấy rõ 3 lớp láng bằng phẩm yên chi
Giữa: Thấy rõ lớp vermilion phủ trên nền bồi bằng gesso phấn
Dưới: Thấy rõ bóng tối trên áo đỏ đước vẽ bằng ultramarine và đen

Slide14

Cô dâu Do Thái (1664) sơn dầu, 121.5 x 165.5 cm. Rembrandt đã vẽ màu áo đỏ bằng vermilion, sau đó láng carmine lên

 

Bột màu khoáng chất phức tạp nhất, chứa lưu huỳnh và natrium silicate Na8-10Al6Si6O24S2-4, từng được coi là màu lam đẹp nhất từ thời cổ xưa, vốn được chế từ đá lapis lazuli, có nhiều tại Badakhshan (Afghanistan).

Thời xưa, đá lapis lazuli được xuất khẩu sang Ai Cập và châu Âu qua Venice để làm đồ trang sức và nghiền làm bột màu vẽ. Người châu Âu gọi thứ bột màu vẽ đắt tiền nhất này là màu từ viễn dương (ultramarine là từ gốc Latin, ultramarinus có nghĩa là bên ngoài, hay bên kia biển). Vì vậy, vào thời Phục Hưng và Baroque, ultramarine chỉ được dùng trong các hợp đồng vẽ tranh đắt tiền do giới giàu có đặt hàng, dùng để vẽ màu áo của Chúa Jesus và Đức Mẹ. Danh hoạ Johannes Vermeer thường pha ultramarine lapis lazuli với trắng chì, tạo nên các hòa sắc lam trất đẹp trong các kiệt tác của mình.

Năm 1824 Hội Khuyến khích kỹ nghệ quốc gia Pháp “La Société d’Encouragement pour l’Industrie Nationale” treo giải 6000 Fr cho người nào tổng hợp được ultramarine với giá dưới 300 Fr/kg. Khi đó giá ultramarine từ lapis lazuli là 11000 Fr/kg.

Năm 1986 Guimet đoạt giải này vì tìm ra cách tổng hợp ultramarine với giá 850 Fr/kg, tức rẻ hơn 13 lần.

Ngày nay ultramarine tổng hợp (PB29) có hai loại, tên là ultramarine và ultramarine Pháp. Ultramarine Pháp có sắc đỏ, hạt to hơn ultramarine.

Slide15

Trong 3 màu trắng thông dụng nhất của sơn dầu là trắng chì (PW1), trắng kẽm (PW4) và trắng titanium (PW6) thì trắng chì (lead white hay silver white) là trắng đầu bảng.

Trắng chì: basic carbonate chì (alkaline lead carbonate) 2PbCO3·Pb(OH)2, tức gồm 2 phần carbonate chì PbCO3 và 1 phần hydroxide chì Pb(OH)2, có độ linh hoạt cao: đục khi vẽ đặc và trong khi vẽ mỏng, sắc ấm và ánh tựa ngọc trai, khô nhanh, độ kết dính cao và tạo màng phim rắn chắc.

Trắng chì được trộn trong dầu tạo màng (như dầu lanh) tạo ra xà phòng chì, có ưu điểm làm sơn dẻo, dễ vẽ, khô nhanh, tạo ra màng dẻo dai, rất ít nứt. Vì thế trắng chì từng là màu không thể thiếu để bồi nền và vẽ lót từ khi sơn dầu được tái phát hiện tại châu Âu, và là màu trắng duy nhất được dùng cho tới t.k. XIX.

Đó là màu trắng không thể thiếu khi vẽ lót và vẽ chân dung. Đó cũng là màu trắng duy nhất của các bậc thầy cổ điển (Trắng kẽm chỉ được dùng từ giữa t.k. XIX, trắng titanium – từ 1921).

Slide17

Slide18

Oxy hóa tự động (autoxidation): các chuỗi acid béo hấp thụ oxy và liên kết ngang (cross-link) với nhau, tạo thành một mạng cao phân tử (polymer) đàn hồi, dai, và cứng dần khi số liên các ngang tăng dần theo thời gian.

Acid béo không bão hòa chứa các liên kết đôi (double bond) trong các chuỗi nguyên tử carbon. Các liên kết đôi này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các liên kết ngang nói trên. Oxy bị hấp thụ càng nhiều dầu khô càng nhanh và màng film càng dai. Oleic acid có 1, linoleic acid có 2, còn linolenic acid có 3 liên kết đôi. Vì thế dầu tạo màng nào chứa nhiều linolenic acid nhất là dầu khô nhanh nhất và có màng film dai nhất.

Quá trình khô của dầu tạo màng kéo dài nhiều năm, ngay cả sau khi màng film tưởng chừng như đã khô sau vài ngày tới một tuần. Dầu tạo màng tăng khối lượng khi hấp thụ oxy (có thể tới 40% đối với dầu lanh) và sau đó khối lượng giảm xuống khi dầu khô cứng lại.

Slide19

Slide20

Phơi nắng dầu lanh tinh khiết nhiều tuần lễ (~ 2 tháng) cho tới khi đặc quánh lại như mật ong. Quá trình này đã oxy hoá và cao phân tử hoá dầu lanh một phần, đồng thời làm sạch các chất bay hơi.
Các tạp chất khác cũng đủ thời gian lắng xuống và sau đó được gạn ra.

Vì thế dầu lanh đặc khô rất nhanh (trong vòng 1 – 2 ngày nếu vẽ mỏng) và tạo một màng film dai hơn, ngả vàng cũng ít hơn dầu lanh sống.

Dầu lanh đặc còn có nhiều ưu điểm như tăng độ dẻo, độ trơn của mầu sơn dầu, cho phép trải rộng diện tích mặt mầu, kéo dài vệt sơn mà không bị đứt đoạn, làm mất vệt bút.

Đây là thứ dầu tốt nhất cho vẽ lót, tỉa chi tiết, cũng như vẽ láng, được dùng từ thời Phục Hưng tới nay.

Slide21

Slide22

Stand oil được chế từ t.k. XIX bằng cách đun dầu lanh tinh khiết vài ngày tại nhiệt độ khoảng 300°C (chưa tới nhiệt độ sôi 349°C) trong nồi đậy kín để tránh tiếp xúc với không khí. Quá trình này cao phân tử hoá dầu lanh. Có tính chất tương tự như dầu lanh đặc nhưng hầu như không ngả vàng. Khô lâu nhất, vì thế tránh dùng khi vẽ các lớp dưới.

 

Venetian turpentine được chế từ nhựa thơm (balsam) chiết từ lõi cây larch Âu châu (tức thông rụng lá, “lạc diệp tùng” 落葉松), có tên khoa học là larix decidua, mọc ở vùng núi Alps và Carpaths. Balsam thuộc loại nhựa mềm (oleoresin) chứa các acid thơm benzoic acid (C7H6O2 hay C6H5COOH) hoặc cinnamic acid (có trong dầu quế).

Balsam từ thông larix decidua mọc tại Tyrol thuộc nước Áo được coi là balsam tốt nhất để chế Venice turpentine. Nhựa thơm này, được pha với dầu thông, thường được bán tại Venice vào t.k. XIV – XV vì thế mà thành tên.

Chiết xuất của Venice turpentine cao, n = 1.53, tương đương chiết xuất thủy tinh quang học (crown glass, n = 1.52 ), vì thế chỉ cần hòa một chút Venice turpentine vào medium là đủ tạo được màng film bóng đều như men sứ, tăng độ bão hòa của sắc tố, và sau khi khô (2 – 3 ngày) không bị dính tay như dammar.

Venice turpentine pha với dầu lanh đặc và dầu oải hương là dung dịch pha màu mà các bậc thầy Phục Hưng và Baroque từng dùng.

Slide23

 

Lavandula angustifolia tức oải hương lá hẹp, còn có tên oải hương Anh (English lavender) hay oải hương thật (true lavender), có mùi thơm ngọt dịu, được dùng để chế tạo hương phẩm, xà phòng, và trong y học.

Lavandula latifolia tức spike lavender (oải hương lá rộng), còn có tên oải hương Bồ Đào Nha (Portuguese lavender), có mùi thơm mạnh, chứa nhiều long não, và hơi hăng, chứa nhiều monoterpenes (khoảng 50%) hơn dầu oải hương lá hẹp (khoảng 29%).

Vì thế, tuy là tinh dầu, dầu oải hương lá rộng có tác dụng như dung môi làm loãng màu sơn dầu. Thực tế, trước t.k. XIX, dầu oải hương lá rộng (spike lavender oil) là chất phổ biến được các hoạ sĩ dùng để làm loãng sơn.

Theo Xavier de Langlais, Jan Van Eyck từng dùng dung dịch pha màu gồm dầu lanh đặc, dầu lanh sống, nhựa copal hoặc hổ phách, Venice turpentine và dầu oải hương. Đó là thứ dung dịch thần diệu đã tạo nên lớp men lộng lẫy và độ bão hòa màu sắc rất cao trong các kiệt tác thời Phục Hưng và Baroque, đồng thời giúp các kiệt tác này trường tồn hàng thế kỷ. Nghiên cứu của London National Gallery cũng cho thấy dung dịch chứa dầu lanh đặc và nhựa thông được dùng khá phổ biến trong tranh của các hoạ sĩ Hà Lan và Đức t.k. XV như Jan Van Eyck, Hieronymus Bosch, cũng như trong tranh của Johannes Vermeer.

Slide24

Slide25

13268215_1711513472440879_3131650450882443758_o

Nghiền màu bằng dao palette (palette knife)

13268506_1711514952440731_4988187169214626951_o

Nghiền màu bằng dao palette (palette knife)

Slide26

Nghiền màu bằng chày thủy tinh (glass muller)

Slide27

Quy trình sản xuất màu sơn dầu tại nhà máy (theo sơ đồ của hãng Matsuda)

Slide28

Công nhân hãng Kusakabe đang điều kiển cối nghiền sơn dầu 3 trống quay (tripple roll mill)

Slide29

Màu sơn dầu được để ngấu sau khi nghiền để pigment hấp thụ tối đa dầu khô. Mục đíchh là đổ pigment hấp thụ tối đa dầu khô. Sơn dầu hạng sinh viên được để ngấu vài tuần, hạng hoạ sĩ từ 1 tới 3 tháng, thượng hạng như Guild được để ngấu tới 18 tháng. Sau khi để ngấu, người ta đổ dẩu thừa trên bề mặt đi, nghiền lại sơn dầu rồi đóng tube.

Slide30

Màu sơn dầu được đóng tube bằng máy

Slide31

Sự khác nhau về hàm lượng pigment, phụ gia và dầu khô giữa sơn dầu hạng sinh viên, hạng hoạ sĩ và thượng hạng

Slide32

Slide33

Danh mục và phân loại một số dòng sơn dầu

Slide34

Slide35

Slide36

4 dòng sơn dầu của hãng Kuskabe: Standard (hạng sinh viên), Kusakabe Artsists’ (hạng hoạ sĩ), Mino (hạng hoạ sĩ) va GUILD (thượng hạng).

Slide37

Holbein Vernét là sơn dầy thượng hạng vì hàm lượng pigment rất cao. Vernét còn là sơn dầu rất mịn vì kích thước hạt pigment chỉ bằng một nửa so với các dòng sơn dầu hạng hoạ sĩ khác.

Slide38

Old Holland Classic là sơn dầu thượng hạng vì hàm lượng pigment rất cao.

Slide39

Màu sơn dầu GUILD của hãng Kusakabe thuộc dòng sơn dầu thượng hạng, tinh khiết nhất, có hàm lượng pigment cao nhất và đắt tiền nhất.

13064654_1711490312443195_774092241762652800_o

Hai màu đỏ đẹp nhất của sơn dầu: vermilion (phải) và đỏ cadmium (trái)

Slide40

Slide41

13064654_1711490312443195_774092241762652800_o

Hai màu đỏ đẹp nhất của sơn dầu: vermilion (phải) và đỏ cadmium (trái)

Slide42

Hai màu đỏ đẹp nhất của sơn dầu: vermilion (phải) và đỏ cadmium (trái)

Slide43

Slide44

Slide45

Slide46

Trong bức “Quà cưới tặng con trai” tôi đã dùng 3 màu raw umber (nâu tối sống), burnt Sienna (nâu Sienna nung) và trắng chì để vẽ lót. Sau đó, phần áo và khăn áo chú rể được lên màu bằng láng vàng cadmium lên ochre, vàng chanh lên vàng cadmium, rồi vàng Ấn Độ lên vàng chanh. Còn áo cô dâu được vẽ bằng phủ vermilion (sulfide thủy ngân) lên đỏ Venetian (nâu đất đỏ Venice), rồi rose madder (hồng thiên thảo) lên vermilion. Bầu trời được vẽ bằng láng cerulean blue pha trắng chì, phần tối phía trên: bằng đen lam (blue black) lên ultramarine. Bãi cát được vẽ bằng day vàng Naples lên ochre v.v.

13243990_1711490389109854_4386542224822462809_o

Slide47

Slide49

 

 

 

 


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 625 other followers